Wiki

Tứ Xuyên

Đối với các định nghĩa khác, xem Tứ Xuyên (định hướng).

Tứ Xuyên
四川
—  Tỉnh  —
Chuyển tự tên
 • Giản xưng Xuyên (川) hoặc Thục (蜀)
Tứ Xuyên
Tứ XuyênTứ XuyênTứ Xuyên
Quốc gia Tứ Xuyên Trung Quốc
Thủ phủ Thành Đô Tứ Xuyên
Chính quyền
 • Bí thư Tỉnh ủy Bành Thanh Hoa (彭清华)
 • Tỉnh trưởng Hoàng Cường (黄强)
Diện tích
 • Tỉnh 485.000 km2 (187,000 mi2)
Thứ hạng diện tích thứ 5
Dân số (2017)
 • Tỉnh 83,020,000
 • Mật độ 170/km2 (440/mi2)
 • Đô thị 42,170,000
Múi giờ UTC+8 Tứ Xuyên
Mã ISO 3166 CN-SC Tứ Xuyên
Thành phố kết nghĩa Ceprano, Yamanashi, Hiroshima Tứ Xuyên
GDP (2018)
 – trên đầu người
4.068 tỉ (615 tỉ USD) NDT (thứ 6)
48.998 (7.404 USD) NDT (thứ 18)
HDI (2016) 0,780 (thứ 24) — trung bình
Các dân tộc chính Hán – 95%
Di – 2,6%
Tạng – 1,5%
Khương – 0,4%
Ngôn ngữ và phương ngôn tiếng Tứ Xuyên, tiếng Tương, tiếng Di, tiếng Tạng, tiếng Khương, tiếng Khách Gia
Trang web  www.sichuan.gov.cn (giản thể)
Nguồn lấy dữ liệu dân số và GDP:
《中国统计年鉴—2005》/ Niên giám thống kê Trung Quốc 2005 ISBN 7503747382

Nguồn lấy dữ liệu dân tộc:
《2000年人口普查中国民族人口资料》/ Tư liệu nhân khẩu dân tộc dựa trên điều tra dân số năm 2000 của Trung Quốc ISBN 7105054255

Tứ Xuyên (tiếng Trung: 四川; bính âm: Sìchuān) là một tỉnh nằm ở tây nam của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tỉnh lị của Tứ Xuyên là Thành Đô, một trung tâm kinh tế trọng yếu của miền Tây Trung Quốc. Giản xưng của Tứ Xuyên là Thục (蜀), do thời Tiên Tần, trên đất Tứ Xuyên có hai nước chư hầu là Thục và Ba, nên Tứ Xuyên còn có biệt danh là Ba Thục (巴蜀).

Năm 2018, Tứ Xuyên là tỉnh đông thứ tư về số dân, đứng thứ sáu về kinh tế Trung Quốc với 83 triệu dân, tương đương với Đức và GDP đạt 4.068 tỉ NDT (615,4 tỉ USD) tương ứng với Đài Loan.

Tỉnh Tứ Xuyên có một lịch sử lâu dài, cảnh quan đẹp, sản vật phong phú, từ xưa đã được gọi là Thiên phủ chi quốc (天府之国; quốc gia của trời đất thiên phủ). Phía tây Tứ Xuyên là nơi cư trú của các dân tộc thiểu số như người Tạng, người Di và người Khương.

Lịch sử


Vào khoảng triều nhà Thương, vùng đất Tứ Xuyên đã xuất hiện nước Ba, Thục, đặc biệt là nền văn minh Tam Tinh Đôi (hoặc gọi là nền văn minh đồi Ba Sao), văn minh Kim Sa là đại biểu cho nền văn minh Thục thời xa xưa phát đạt cao độ. Sau khi vương triều Tần thống trị Tứ Xuyên, văn hoá Ba Thục và văn hoá Trung Nguyên hoà trộn lẫn nhau, trở thành một trong những đầu nguồn trọng yếu của văn hoá Trung Hoa, nắm giữ vị trí quan trọng trong lịch sử Trung Quốc.

Nguồn gốc tên đất Tứ Xuyên

Vào khoảng năm Hàm Bình hoàng đế Tống Chân Tông triều Bắc Tống, xuyên hạp lộ (川峡路) là đường phân chia ranh giới hành chính, mà nằm ở vành đai bồn địa Tứ Xuyên ngày nay, bao gồm tổng cộng bốn lộ là Ích Châu lộ, Tử Châu lộ, Lợi Châu lộ và Quỳ Châu lộ, tất cả hợp lại gọi là xuyên hạp tứ lộ (川峡四路), sau này thường gọi tắt là tứ xuyên, tỉnh Tứ Xuyên được đặt tên từ đó. Có cách giải thích khác là cảnh nội Tứ Xuyên thời đó có bốn con sông lớn là sông Dân, sông Đà, sông Gia Lăng, sông Ô, ngày xưa gọi sông (江) là xuyên (川), tỉnh Tứ Xuyên được đặt tên từ đó .

Tiên Tần

Trong suốt thời kỳ tiền sử và lịch sử ban đầu của mình, Tứ Xuyên và các vùng phụ cận trong lưu vực Trường Giang là các nôi của các nền văn minh bản địa có thể có niên đại ít nhất từ thế kỷ XV TCN và trùng hợp với những năm cuối của nhà Thương và trong thời nhà Chu ở phía bắc Trung Quốc. Tứ Xuyên đã xuất hiện trong các thư tịch cổ Trung Hoa với cái tên Ba Thục (巴蜀) do kết hợp tên gọi của hai quốc gia cổ trong bồn địa Tứ Xuyên là Ba và Thục. Lãnh thổ của nước Ba nay là Trùng Khánh, vùng đất đông bộ Tứ Xuyên dọc theo Trường Giang và một số chi lưu của nó, trong khi nước Thục có lãnh thổ tại khu vực Thành Đô cùng các đồng bằng xung quanh và lãnh thổ lân cận ở tây bộ Tứ Xuyên.

Tứ Xuyên Văn vật khai quật tại Tam Tinh Đôi, một đầu đồng lớn với hai mắt lồi ra, được cho là để mô tả Tàm Tùng (蠶叢), người sáng lập nước Cổ Thục

Tứ Xuyên
Tiếng Trung 四川
Bính âm Hán ngữ Sìchuān Tứ Xuyên[nghe] (trợ giúp·thông tin)
Tiếng Tứ Xuyên Pinyin Si4cuan1
La tinh Szechwan or Szechuan
Phiên âm
Tiếng Hán tiêu chuẩn
Bính âm Hán ngữ Sìchuān Tứ Xuyên[nghe] (trợ giúp·thông tin)
IPA [sɨ̂tʂʰwán]
Tiếng Hán tiêu chuẩn khác
Bính âm Hán ngữ Tứ Xuyên Si4cuan1
Tiếng Ngô
La tinh hóa sy3tshoe1
Tiếng Khách Gia
La tinh hóa Si-tshôn
Tiếng Quảng Châu
Việt bính sei3cyun1
Tiếng Mân Nam
Tiếng Mân Tuyền Chương POJ Sù-chhoan

Sự tồn tại của nước Cổ Thục được ghi lại rất nghèo nàn trong các chính sử của Trung Hoa, song trong Kinh Thư nước Thục được ghi là một đồng minh đã giúp nhà Chu lật đổ được nhà Thương. Các mô tả về nước Thục chủ yếu là pha trộn giữa các câu chuyện thần thoại và truyền thuyết lịch sử, chúng được chép trong các biên niên sử địa phương như Hoa Dương quốc chí (華陽國志) được biên soạn vào thời nhà Tấn, với các truyện kể dân gian rằng ông vua Đỗ Vũ (杜宇) đã dạy người dân làm nông nghiệp và đã tự hóa thân thành một con chim cu cu sau khi chết. Khám phá khảo cổ học tại một thôn nhỏ có tên là Tam Tinh Đôi (三星堆) ở huyện Quảng Hán đã đưa ra ánh sáng về sự tồn tại của một nền văn minh phát triển cao với một ngành công nghiệp đồng độc lập tại Tứ Xuyên. Di chỉ này được tin là một thành cổ của nước Cổ Thục, ban đầu nó được một nông dân địa phương phát hiện ra vào năm 1929 và ông ta đã tìm thấy các đồ tạo tác bằng ngọc bích và đá. Các cuộc khai quật do những nhà khảo cổ tiến hành trong khu vực đã mang lại một vài phát hiện có ý nghĩa cho đến năm 1986, khi người ta tìm thấy hai hố cúng tế lớn với các đồ vật bằng đồng đẹp đẽ cũng như các đồ tạo tác bằng ngọc bích, vàng, đất nung và đá. Khám phá này cùng các phát hiện khác tại Tứ Xuyên gây mâu thuẫn với quan niệm truyền thống trong sử sách rằng văn hóa và kỹ thuật của Tứ Xuyên thua kém khi so sánh với nền văn minh tại thung lũng Hoàng Hà.

Nước Ba thường được mô tả là một liên minh lỏng lẻo hoặc là một tập hợp các tù trưởng, bao gồm một số thị tộc độc lập liên kết lỏng lẻo cùng công nhận một vị vua. Các thị tộc người Ba rất đa dạng, bao gồm nhiều sắc tộc. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy người Ba dựa chủ yếu vào đánh cá và săn bắn, hoạt động nông nghiệp ở mức độ thấp và không có bằng chứng về thủy lợi. Nước Ba đã liên minh với nước Tần khi Tần đánh Thục. Sau khi Thục bị diệt, Tần ngay lập tức chinh phục đồng minh và bắt vua nước Ba. Ba sau đó trở thành một quận của Tần.

Khu vực Tứ Xuyên thời cổ có niềm tin tôn giáo và thế giới quan riêng biệt. Có các tài nguyên quặng khác nhau. Thêm vào đó, khu vực này cũng thêm phần quan trọng khi nằm trên tuyến đường thương mại giữa thung lũng Hoàng Hà và các quốc gia khác ở phía tây nam, đặc biệt là các nước nay thuộc lãnh thổ Ấn Độ.

Nhà Tần

Sau khi nước Tần tiêu diệt cả hai nước Thục và Ba, các bản văn cùng các thành tựu của hai nước này đều bị Tần phá hủy. Triều đình Tần sáp nhập Thục và Ba thành hai quận của mình, Tần gửi quan chức đến trực tiếp cai trị tại Thục và chủ động khuyến khích dân di cư từ Tần tới Thục. Tuy nhiên đối với Ba, ban đầu Tần vẫn để tầng lớp trên của nước Ba cũ tiếp tục cai trị trực tiếp và không tiến hành cưỡng bách người Tần di cư quy mô lớn đến lãnh thổ Ba, song tầng lớp này về sau đã bị đẩy ra ngoài lề trong một chính sách chia để trị. Tần dường như cũng đã đưa các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến đến Tứ Xuyên, khiến trình độ nông nghiệp tại đây ngang bằng với thung lũng Hoàng Hà. Tần đã cho xây dựng nên hệ thống thủy lợi Đô Giang Yển vào thế kỷ thứ III TCN trên sông Dân tại Tứ Xuyên. Công trình do thái thú Thục quận Lý Băng (李冰) giám sát thi công và là biểu tượng cho kỹ thuật nông nghiệp vào thời kỳ đó. Công trình này bao gồm một loạt đập nước, nó chuyển hướng dòng chảy từ sông Dân (một chi lưu lớn của Trường Giang) đến các cánh đồng và cũng làm giảm thiệt hại của các trận lũ lụt theo mùa. Việc xây dựng hệ thống thủy lợi này đã khiến sản lượng nông nghiệp của Tứ Xuyên tăng lên rất nhiều, Tứ Xuyên cũng trở thành một nguồn cung lương thảo và binh lính chính cho Tần khi nước này tiến hành các cuộc chiến nhằm thống nhất Trung Quốc.

Trong suốt lịch sử sau đó của Trung Quốc, tầm quan trọng về quân sự của Tứ Xuyên cũng nổi lên ngang bằng với ý nghĩa về thương mại và nông nghiệp. Bồn địa Tứ Xuyên nằm lọt giữa cao nguyên Thanh-Tạng ở phía tây, Tần Lĩnh-Mễ Thương Sơn ở phía bắc, cao nguyên Vân-Quý ở phía nam, phía đông có Tam Hiệp, dãy núi Vu Sơn, và thường có sương mù. Do Trường Giang chảy qua bồn địa và là đầu nguồn so với vùng Hoa Trung và Hoa Đông, thủy quân có thể dễ dàng từ Tứ Xuyên đi thuyền về hạ du. Do đó, Tứ Xuyên đã trở thành căn cứ của nhiều lực lượng quân sự và cũng là nơi ẩn náu lý tưởng cho những người tị nạn chính trị của các triều đại Trung Quốc.

Thời Hán

Tứ Xuyên Một khuyết (闕), tức cột trụ chạm khắc đá ở cửa, có chiều cao 6 m, nằm ở lăng mộ của Cao Di (高颐) tại Nhã An, được xây vào thời Đông Hán

Giao thời nhà Tần và Nhà Hán, Hạng Vũ đã phong cho Lưu Bang làm Hán vương, cai trị đất Hán Trung và Ba Thục. Tháng 4 năm 206 TCN, Lưu Bang trở về đất phong, được cấp 3 vạn quân. Theo lời khuyên của Trương Lương, ông đi qua đường sạn đạo xong liền đốt và cắt đứt đường sạn đạo để đề phòng quân chư hầu đánh úp, đồng thời cũng để chứng tỏ cho Hạng Vũ thấy rằng mình không có ý đi về hướng đông. Trong chiến tranh Hán-Sở, vùng Tứ Xuyên không bị ảnh hưởng trực tiếp của chiến loạn và là nơi cung cấp hậu cần trọng yếu cho việc Lưu Bang xưng đế lập nên Nhà Hán.

Thời kỳ đầu Tây Hán, tình hình xã hội, kinh tế, văn hóa của khu vực Tứ Xuyên phát triển nhanh chóng, mức thịnh vượng vượt quá vùng Quan Trung nên được gọi là “Thiên phủ chi quốc”, mỹ xưng này vẫn tồn tại đến nay. Những năm Hán Cảnh Đế, Văn Ông (文翁) nhậm chức thái thú Thục quận, đã thiết lập học đường do chính quyền quản lý đầu tiên tại Trung Quốc, “Văn Ông Thạch Thất” (文翁石室), tại Thành Đô, từ đó truyền thống học tập của Tứ Xuyên lên cao, ngang bằng với vùng Tề Lỗ.

Cuối thời Tây Hán, nhân lúc thiên hạ có biến loạn, năm 25, Công Tôn Thuật (公孫述) đã chiếm cứ Ích châu, xưng đế, đặt quốc hiệu là “Thành Gia”, lập quốc đô tại Thành Đô. Công Tôn Thuật đặt tên thành trì xây bên khe Cù Đường là “Bạch Đế Thành”, cử nhiều binh sĩ phòng thủ. Công Tôn Thuật làm hoàng đế tại Thành Đô được 12 năm thì đến năm 37, Lưu Tú sau khi gây dựng triều Đông Hán ở Trung Nguyên đã đưa quân tấn công Công Tôn Thuật, Công Tôn Thuật chết trong loạn binh. Tổng cộng, Công Tôn Thuật đã thống trị miền tây nam Trung Quốc trong vòng 28 năm. Trong 28 năm ấy, khu vực miền này rất ổn định, không bị chiến loạn Trung Nguyên ảnh hưởng. Trong thời gian làm hoàng đế, Công Tôn Thuật đã phát triển nông nghiệp, xây dựng thủy lợi, đem đến cuộc sống no đủ cho cư dân. Cho nên sau khi Công Tôn Thuật chết, nhân dân địa phương xây dựng “đền Bạch Đế” trong Bạch Đế thành để tưởng nhớ ông.

Cuối thời Đông Hán, cha con Lưu Yên đã cát cứ tại Ích châu. Ích châu bấy giờ do Khước Kiệm làm thứ sử, áp dụng chính sách thuế khoá hà khắc khiến người dân bất mãn. Lưu Yên khi đến Ích châu bèn thực hiện chính sách khoan dung, vỗ về dân chúng và tranh thủ sự ủng hộ của các quý tộc địa phương. Một số quan chức triều đình như Đổng Phù, Triệu Vĩ từ quan theo Lưu Yên vào đất Thục. Ích châu khi đó cai quản 9 quận: Thục quận, Quảng Hán, Kiến Vi, Ba quận (đông Tứ Xuyên), Việt Huề (Tứ Xuyên), Tây Khang, Tường Kha (Quý Châu), Vĩnh Xương (Vân Nam), Ích Châu (Vân Nam). Năm 194, Lưu Yên lâm bệnh và qua đời. Trưởng quan Triệu Vĩ lập Lưu Chương lên làm Ích châu mục. Ích châu tương đối yên ổn trong 20 năm thì bị Lưu Bị đánh chiếm. Lúc đó, ở Ích châu, Lưu Chương có 3 mối lo: thù với Trương Lỗ, sự đe dọa của Tào Tháo và sự chống đối của các thế lực bản địa người Thục vẫn chưa thực sự phục tùng cha con Lưu Chương. Sau đó, Lưu Chương lại sai Pháp Chính sang Kinh châu mời Lưu Bị (người cùng họ) mang quân nhập Xuyên, Lưu Bị coi đây là thời cơ tốt để tiến vào Ích châu. Lưu Bị sau đó đã trở mặt tiến đánh Lưu Chương, cuối cùng chiếm được Thành Đô. Lưu Chương mở cửa thành ra hàng, được Lưu Bị đưa về an trí cùng gia quyến. Quan lại các châu quận của Ích châu đều ngả theo Lưu Bị, chỉ có Hoàng Quyền đóng cửa thành cố thủ. Mãi đến khi Lưu Chương đầu hàng, Hoàng Quyền mới ra quy thuận.

Thời Tam Quốc

Tứ Xuyên Bản đồ Tam Quốc năm 262

Năm 221, sau khi Tào Phi phế Hán Hiến Đế và xưng đế (tức Ngụy Văn Đế), Lưu Bị lên làm hoàng đế, lấy quốc hiệu là Hán với hàm ý kế tục Nhà Hán, đóng đô ở Thành Đô. Tuy nhiên sử thường gọi là nước Thục hoặc Thục Hán, ít khi gọi là nước Hán. Cương vực của Thục Hán bao trùm lên các khu vực Tứ Xuyên, Trùng Khánh, đại bộ phận Vân Nam, toàn bộ Quý Châu và một bộ phận nhỏ ở phía nam Thiểm Tây và Cam Túc. Thục Hán cùng Tào Ngụy và Đông Ngô hình thành thế đối đầu Tam Quốc. Trước đó, Đông Ngô vào năm 220 đã đánh chiếm Kinh châu và giết chết Quan Vũ; hai thủ hạ của Trương Phi là Phạm Cương và Trương Đạt đã sát hại Trương Phi rồi sau đó sang hàng Đông Ngô. Vì thế, Lưu Bị sau khi xưng đế đã quyết định thân chinh cầm quân đi đánh Đông Ngô, giao cho thừa tướng Gia Cát Lượng giúp thái tử Lưu Thiện giữ Thành Đô. Tháng 7 năm 211, Lưu Bị hạ lệnh tập trung quân ở Giang châu huyện thuộc Ba quận rồi tiến về Kinh châu. Kết quả là Thục Hán thất bại trước Đông Ngô, Lưu Bị phải lui về Bạch Đế thành rồi mất ở đó. Thất bại trong trận Di Lăng là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quân sự và chính trị của Thục Hán. Sức quân, sức nước của Thục Hán bộc lộ sự suy yếu rõ ràng; bản thân chính quyền tự xưng là kế thừa ngôi chính thống của nhà Đông Hán bắt đầu đi vào con đường gập ghềnh.

Thái tử Lưu Thiện sau đó lên ngôi hoàng đế Thục Hán, Gia Cát Lượng vẫn làm thừa tướng và đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên trong lúc này ở vùng Nam Trung xảy ra cuộc nổi loạn vũ trang ở Ích Châu quận của một số địa chủ do Ung Khải cầm đầu, những người này đã nổi dậy giết chết quan thái thú do Thục Hán bổ nhiệm. Tiếp đó xảy ra hai cuộc nổi loạn tiếp theo để hưởng ứng là cuộc khởi nghĩa ở Chu Bảo cầm đầu ở Hoàng Bình-Quý Châu và Cao Định ở Tây Xương-Tứ Xuyên. Ung Khải còn sai Mạnh Hoạch tiến hành tuyên truyền trong vùng dân tộc thiểu số ở Nam Trung. Vì thế, đích thân thừa tướng Gia Cát Lượng đã phát đích thân dẫn quân nam chinh. Sau khi giành được thắng lợi ở phương Nam, thừa tướng Gia Cát Lượng tiếp tục dẫn quân Thục thực hiện 5 cuộc Bắc phạt chống Tào Ngụy, song đã không đạt được mục tiêu chiến lược, đều phải lui binh.

Sau cái chết của Gia Cát Lượng, vị trí thừa tướng của Thục Hán lần lượt do Tưởng Uyển, Phí Vĩ và Đổng Doãn đảm nhận. Sau năm 258, triều đình Thục Hán ngày càng bị kiểm soát bởi các hoạn quan và tham nhũng tràn lan mà điển hình là Hoàng Hạo, ngoài ra, còn vì hoàng đế bất tài nhu nhược nên Thục Hán dần suy sụp. Các cuộc chiến tranh với Ngụy khiến binh lực Thục Hán dần hao mòn. Đến mùa đông năm 263, quân Ngụy chiếm được kinh đô Thành Đô của Thành Hán, hoàng đế Lưu Thiện đầu hàng.

Thời Tây Tấn

Sau khi chiếm được đất Thục, nhà Tấn bắt đầu chuẩn bị xâm chiếm Đông Ngô bằng việc xây dựng hạm đội và huấn luyện thủy quân tại Tứ Xuyên dưới quyền Vương Tuấn. Năm 279, khi nhà Tấn tiến hành chiến dịch quyết định tiêu diệt Đông Ngô, các tướng Đỗ Dự, Vương Tuấn của Tấn đã chỉ huy hạm đội từ Tứ Xuyên xuôi dòng Trường Giang tới Kinh Châu. Nhà Tấn sau đó đã chia Ích châu thành ba châu là Lương châu, Ích châu và Ninh châu.

Thời Thành Hán

Sau loạn Bát vương, Tây Tấn suy yếu trầm trọng. Người Đê (hay Chi) vốn ở Quan Trung, vì mất mùa mấy năm, đã kéo hàng chục vạn người vào Thục kiếm sống. Nhà Tấn sai La Thượng (羅尚) vào Thục, ép lưu dân người Đê rời khỏi Ích Châu vào tháng 7 năm 302. Thủ lĩnh người Đê là Lý Đặc xin được gặt mùa xong, tới mùa đông sẽ đi. La Thượng không bằng lòng, mang quân đến đánh đuổi Lý Đặc. Người Đê bèn theo Lý Đặc nổi dậy làm phản. Tuy nhiên, mùa xuân năm 303, Lý Đặc sau một chiến thắng lớn trước La Thượng, đã bất cẩn tin lời thỉnh cầu của La Thượng về việc đình chiến (chống lại lời khuyên của Lý Hùng và Lý Lưu). Sau đó, La Thượng đã tiến hành một cuộc đánh úp và giết chết Lý Đặc. Tàn quân của Lý Đặc lập Lý Lưu làm lãnh đạo mới. Vào mùa đông năm 303, Lý Lưu lâm bệnh và trước khi qua đời ông đã chỉ định Lý Hùng làm người kế vị. Vào đầu năm 304, Lý Hùng chiếm được Thành Đô, đô phủ của Ích Châu, buộc La Thượng phải chạy trốn. Vào mùa đông năm 304, Lý Hùng xưng Thành Đô vương, đến năm 306 thì xưng đế và đặt quốc hiệu là “Thành”. Sau đó ngôi vị hoàng đế của nước Thành về tay Lý Ban rồi Lý Kỳ.

Lý Thọ sau khi tiến hành binh biến và tiến về Thành Đô lật đổ Lý Kỳ, đã lên ngôi và cải quốc hiệu từ Thành sang “Hán” và lập một tông miếu mới cho cha ông là Lý Tương và mẹ, tuyệt giao với chế độ mà Lý Hùng đã gây dựng nên. Mùa xuân năm 339, Thánh Hán bị mất Ninh châu, là vùng mà Lý Thọ đã chiếm của Đông Tấn vài năm trước đó. Trong vài năm sau đó, Đông Tấn và Thành Hán tiếp tục giao chiến tại nhiều nơi ở Ninh châu. Lý Thọ cũng áp dụng hình thức cai trị khắc nghiệt và cho bắt đầu xây dựng nhiều công trình, thần dân Thành Hán phải chịu gánh nặng và điều này đã khiến họ suy giảm lòng trung thành với đất nước. Sau khi Lý Thọ chết, Lý Thế lên kế vị, đến mùa đông năm 346, tướng Lý Dịch (李奕) đã nổi loạn và nhanh chóng tiến về Thành Đô, song cuộc nổi loạn đã thất bại. Sau khi đánh bại Lý Dịch, Lý Thế càng trở nên ngạo mạn và lơ là chính sự quốc gia, ông cũng cho thực thi các hình phạt dã man khiến cho người dân mất tin tưởng. Thành Hán cũng bị tổn hại với sự xuất hiện của một bộ lạc được gọi là Lão (獠), chính quyền địa phương không thể kiểm soát người Lão một cách dễ dàng. Quân Đông Tấn do Hoàn Ôn chỉ huy sau đó đã tiêu diệt nước Hán của người Đê vào năm 347.

Thời Đông Tấn

Sau khi Thành Hán bị tiêu diệt, Tứ Xuyên được sáp nhập vào lãnh thổ Đông Tấn. Từ đó, Đông Tấn hoàn toàn kiểm soát được miền Nam Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng thời điểm này, Hoàn Ôn bắt đầu độc lập thực tế trong việc ra các quyết định ở các châu phía tây, trong đó có vùng Tứ Xuyên. Năm 373, Tiền Tần đã tấn công, chiếm Lương châu (梁州) và Ích châu. Sau trận Phì Thủy, quân Đông Tấn đã lấy lại được Lương châu và Ích châu.

Tiều Thục

Vào mùa xuân năm 405, quân của Mao Cừ (毛璩) ở Ích Châu bất mãn rằng Mao Cừ đã đưa họ vào các chiến kéo dài chống Hoàn Huyền và Hoàn Chấn nên đã nổi loạn, họ ủng hộ tướng Tiều Túng (譙縱) làm lãnh đạo của mình. Quân nổi loạn đánh bại và giết chết Mao Cừ, chiếm Thành Đô, Tiều Túng lập nên nước Tây Thục độc lập ở đây. Tiều Túng sau đã khuất phục làm chư hầu của hoàng đế Diêu Hưng của nước Hậu Tần. Ông cũng bí mật duy trì một mối quan hệ với thứ sử Quảng Châu (廣州, nay là Quảng Đông và Quảng Tây) của Đông Tấn là Lư Tuần. Năm 412, Lưu Dụ cử tướng Chu Linh Thạch (朱齡石) dẫn 2 vạn quân đi đánh Tây Thục, quân Đông Tấn đã tiến theo một tuyến đường khác so với tuyến đường trước đó mà Lưu Kính Tuyên (劉敬先) đã đi. Tiều Túng không dự đoán được điều này nên đã bố trí phòng thủ sai lầm, quân Đông Tấn tiến theo sông Dân rồi bỏ thuyền tiến thẳng đến kinh thành Thành Đô. Tây Thục diệt vong, đất Tứ Xuyên lại về tay Đông Tấn.

Thời Nam-Bắc triều

Năm 420, Lưu Dụ đã ép Tấn Cung Đế thoái vị và nhường ngôi cho mình, lập ra triều Lưu Tống. Năm 432, dưới thời Lưu Tống Văn Đế, căm giận trước sự cai trị tồi của thứ sử Ích châu là Lưu Đạo Tế (劉道濟), người dân Ích Châu đã nổi dậy, dưới sự chỉ huy của Hứa Mục Chi (許穆之), người này đã đổi tên thành Tư Mã Phi Long (司馬飛龍) và tự tuyên bố là một hậu duệ của hoàng tộc nhà Tấn. Lưu Nghĩa Khang đã nhanh chóng đánh bại và giết chết Tư Mã Phi Long, song một sư tăng tên là Trình Đạo Dưỡng (程道養) ngay sau đó đã nổi dậy và đe dọa thủ phủ Thành Đô của Ích Châu, và mặc dù tướng Bùi Phương Minh (裴方明) đã có thể bao vây quân nổi loạn, Trình vẫn còn là một mối đe dọa trong vài năm, ông ta tự xưng tước hiệu là Thục vương. Trong khi chiến dịch đang được tiến hành, người cai trị của Cừu Trì [một nước chư hầu trên danh nghĩa của cả Lưu Tống và Bắc Ngụy] tên là Dương Nan Đương (楊難當) cũng tấn công và chiếm giữ Lương châu vào năm 433. Mùa xuân năm 434, tướng Lưu Tống là Tiêu Tư Thoại (蕭思話) đã đánh bại quân của Dương Nan Đương và tái chiếm Lương châu. Năm 441, Dương Nan Đương không sẵn lòng từ bỏ thèm muốn với Lương Châu và Ích Châu nên đã tấn công Lưu Tống, thất bại, ông phải chạy trốn đến Bắc Ngụy.

Sau khi Lương Vũ Đế mất, miền Nam Trung Quốc trở nên biến loạn. Sau khi Tiêu Luân chết, Thứ sử Ích châu Vũ Lăng Vương Tiêu Kỷ vốn là em thứ 8 của Tiêu Dịch lại trở thành đối tượng mà Dịch tiêu diệt. Từ năm Đại Đồng thứ 3 (537), Tiêu Kỷ được bổ nhiệm làm thứ sử Ích châu. Đến năm 552 đã trấn thủ Lương châu, Ích châu cả thảy hơn 16 năm, có trong tay 4 vạn tinh binh, 8 nghìn con ngựa. Trong thời gian Tiêu Kỷ cai quản Ích châu, kinh tế và quân đội tại đây được củng cố. Thấy Tiêu Kỷ xua quân về Đông, Tiêu Dịch liền sai sứ thần đến Tây Ngụy xin binh đánh Tiêu Kỷ. Tiêu Dịch ra lệnh cho cháu là Nghi Phong hầu Tiêu Tuân, thứ sử Lương Châu (Nam Thiểm Tây) rút khỏi thủ phủ Lương Châu là Nam Trịnh (Hán Trung, Thiểm Tây) và nhường thành Nam Trịnh cho Tây Ngụy. Tây Ngụy liền phái đại quân đánh xuống Lương Châu, chiếm được Ích châu.

Thời Tùy và Đường

Tứ Xuyên Lạc Sơn Đại Phật tại Tứ Xuyên, được xây dựng từ thời Đường mạt

Năm Khai Hoàng thứ 1 (581) thời Tùy Văn Đế, Tứ Xuyên đã được nhập vào bản đồ nhà Tùy, dưới thời Tùy Đường, khu vực Tứ Xuyên có tình hình xã hội ổn định, kinh tế phát triển toàn thịnh; vào thời Trung Đường có thuyết nói là “Dương nhất, Ích nhị”. Trong loạn An Sử, Đường Huyền Tông đã chạy đến đất Thục tị nạn. Sau đó, một số hoàng đế Đại Đường cũng nhập Thục tị nạn, như Đường Đức Tông trong loạn Chu Thử (朱泚之乱), Đường Hy Tông trong loạn Hoàng Sào. Vào năm Thiên Bảo thứ 7 (748), Nam Chiếu thống nhất một vùng tây nam bao gồm Vân Nam, Quý Châu, phía nam Tứ Xuyên. Năm 829, Thành Đô đã bị quân Nam Chiếu chiếm đóng; nó đã là một phần thưởng lớn, vì Nam Chiếu nay đã có khả năng chiếm toàn bộ Tứ Xuyên với những cánh đồng màu mỡ. Kiếm Nam tiết độ sứ là Đỗ Nguyên Dĩnh không chuẩn bị trước nên khi quân Nam Chiếu công nhập ngoại thành Thành Đô, đã chạy trốn cùng với tổng cộng hơn mười vạn người và rất nhiều châu báu. Đến Đại Độ Hà, gặp quân Nam Chiếu, người Đường ngảy xuống sông tự vẫn đến 3 phần 10. Điều này là quá đủ với người Hán, họ đã không mất nhiều thời gian để phản công, Đường và Nam Chiếu sau đó ký kết hòa ước. Sau khi không được chấp nhận lời cầu hôn và đánh bại được Thổ Dục Hồn, quân Thổ Phồn của Tùng Tán Can Bố đã thừa cơ tiến đánh Tùng Châu (nay là Tùng Phan, A Bá) thuộc đất Đường và đánh thắng quân Đường ở đây. Khi quân Đường đem quân đến đánh, Tùng Tán Can Bố đã cho người đến giảng hòa.

Thời Ngũ Đại Thập Quốc

Năm 891, Vương Kiến được Nhà Đường phong Tây Xuyên Tiết độ sứ. Khi Nhà Đường suy yếu, ông mở rộng phạm vi quản lý của mình sang phía đông. Ông xưng đế khi Nhà Đường sụp đổ năm 907, không thần phục nhà Hậu Lương, triều đại thay thế Nhà Đường. Quốc đô Tiền Thục là Thành Đô, Tiền Thục có lãnh thổ bao gồm gần như toàn bộ tỉnh Tứ Xuyên, một phần phía nam tỉnh Cam Túc và Sơn Tây, phía tây tỉnh Hồ Bắc và toàn bộ Trùng Khánh. Đến năm 925, Hậu Đường Trang Tông đã sai tướng Quách Sùng Thao mang quân thôn tính Tiền Thục. Mạnh Tri Tường là một trong các tướng lĩnh Hậu Đường lĩnh nhiệm vụ đi chinh phục Tiền Thục. Ông được Hậu Đường Trang Tông phong làm Nam Tứ Xuyên, Thành Đô quân Tiết độ sứ, quản lý vùng đất thuộc Tiền Thục cũ. Sau khi Hậu Đường Minh Tông Lý Tự Nguyên lên ngôi vào năm 926, Mạnh Trí Tường mưu phản Hậu Đường. Hậu Đường Minh Tông bị sự đe dọa của người Khiết Đan phía bắc nên phải an trí Mạnh Tri Tường bằng cách phong ông làm Thục vương. Năm 933, Hậu Đường Minh Tông mất, nhà Hậu Đường suy yếu do mâu thuẫn nội bộ, Mạnh Tri Tường quyết chí cát cứ, tự xưng đế, chính thức lập ra nước Hậu Thục. Nước Hậu Thục kiểm soát vùng đất tương tự nước Tiền Thục trước đây, quốc đô cũng đặt ở Thành Đô. Vùng Tứ Xuyên chỉ phải chịu ảnh hưởng nhỏ của chiến loạn trong thời kỳ này, vì thế đã trở thành vùng phồn hoa nhất tại Trung Quốc lúc đó. Nước Hậu Thục bị Nhà Tống tiêu diệt vào năm 965.

Thời Nhà Tống

Tứ Xuyên Lễ thông xe tuyến đường sắt Thành-Du (từ Thành Đô đến Trùng Khánh) vào tháng 7 năm 1952
Tứ Xuyên Một tòa nhà tại Đô Giang Yển bị hủy hoại trong trận động đất Tứ Xuyên năm 2008

Sau khi kiểm soát được Tứ Xuyên, chính quyền mới đã thành lập các hành thự khu Xuyên Đông, Xuyên Tây, Xuyên Nam, Xuyên Bắc từ năm 1950 song đến năm 1952 thì bãi bỏ và khôi phục lại hệ thống hành chính cấp tỉnh tại Tứ Xuyên, thành lập thành phố Bắc Bội thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Đến năm 1954, Trùng Khánh lại được sáp nhập vào Tứ Xuyên, trở thành một thành phố trực thuộc tỉnh. Đến năm 1955, chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã bãi bỏ tỉnh Tây Khang, vùng đất phía đông sông Kim Sa (thượng du Trường Giang) được nhập vào Tứ Xuyên còn vùng đất phía tây song được sáp nhập vào Tây Tạng.

Trong ba năm xảy ra nạn đói lớn (1959-1961), ngoài vùng đồng bằng Thành Đô và một vài thành thị khác là có tương đối đủ cơm ăn áo mặc, người dân Tứ Xuyên đã phải chịu một nạn đói chưa từng thấy trong lịch sử, đặc biệt là ở vùng đồi núi Xuyên Đông có dân đông và ít đất canh tác. Tổng số người chết không tự nhiên ở Tứ Xuyên là 9,4 triệu người, đứng đầu về số lượng; con số này chiếm 13,07% so với dân số tỉnh trước nạn đói (71,915 triệu), tỷ lệ này cao thứ hai chỉ sau An Huy. Nạn đói nghiêm trọng nhất là tại Đạt huyện và Trùng Khánh, số người chết đói là 6,42 triệu người, chiếm 37% tổng dân số Đạt huyện và Trùng Khánh. Nạn đói cũng đã làm tổn hại đến sản xuất công nghiệp và nông nghiệp trong tỉnh, ba năm này có thể xem là một bước ngoặt của Tứ Xuyên bởi vì kể từ đó Tứ Xuyên đã không còn là một trong những khu vực phát triển nhất tại Trung Quốc (mà nó nắm giữ tuyệt đại đa số thời gian trong 2000 năm trước đó), và trở thành một tỉnh phát triển tầm trung bình.

Từ năm 1964, tỉnh Tứ Xuyên là một trong các khu vực trọng điểm của Tam tuyến kiến thiết (phát triển công nghiệp trong vùng nội địa tây nam để ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra), trong đó Trùng Khánh và Thành Đô là trung tâm. Trùng Khánh là thành phố có lượng người nhập cư lớn nhất trong số các thành phố của Tam tuyến kiến thiết. Năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền, Tứ Xuyên là một trong những tỉnh đầu tiên trải qua thử nghiệm hạn chế đối với các doanh nghiệp kinh tế thị trường.

Từ năm 1955 cho đến năm 1997, Tứ Xuyên là tỉnh đông dân nhất Trung Quốc, tổng dân số của tỉnh đã đạt 99.730.000 người trong cuộc điều tra nhân khẩu năm 1982. Song điều này đã thay đổi vào năm 1997 khi thành phố Trùng Khánh cùng các địa cấp thị Phù Lăng, Vạn Huyện và Kiềm Giang tách khỏi Tứ Xuyên để hình thành nên thành phố Trùng Khánh trực thuộc Trung ương. Đô thị mới này được thành lập trong nỗ lực phát triển kinh tế các khu vực miền Tây của Trung Quốc, cũng như để giải quyết việc tái định cư các cư dân từ các khu vực sẽ nằm trong lòng hồ chứa của dự án đập Tam Hiệp. Năm 1997, khi chia tách, tổng dân số của Trùng Khánh và Tứ Xuyên là 114.720.000 người.

Tháng 5 năm 2008, một trận động đất với cường độ 7,9/8,0 độ richter đã xảy ra cách 79 kilômét (49 dặm) về phía tây bắc của Thành Đô. Theo ước tính chính thức, trận động đất đã khiến 69.188 người thiệt mạng, 374.177 người bị thương và 18.440 người mất tích, tuyệt đại đa số là tại Tứ Xuyên. Tháng 11 năm 2008, chính phủ Trung ương của Trung Quốc đã tuyên bố rằng họ sẽ dành 1 nghìn tỉ NDT (khoảng 146,5 tỉ USD) trong ba năm sau đó để tái thiết các khu vực bị tàn phá do động đất.

Địa lý


Địa hình

Tứ Xuyên Bồn địa Tứ Xuyên được các dãy núi bao quanh

Tứ Xuyên nằm ở khu vực Tây Nam Trung Quốc, ở thượng du của Trường Giang, nằm sâu trong nội địa. Chiều dài đông-tây của Tứ Xuyên là 1.075 km, chiều dài bắc-nam là 921 km, diện tích trên 484 nghìn km². Khu vực tây bộ Tứ Xuyên là một bộ phận của cao nguyên Thanh-Tạng, phần lớn đông bộ Tứ Xuyên thuộc bồn địa Tứ Xuyên. Theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc, Tứ Xuyên lần lượt giáp với Cam Túc, Thiểm Tây, Trùng Khánh, Quý Châu, Vân Nam, khu tự trị Tây Tạng và Thanh Hải.

Núi non là loại địa hình chủ yếu của Tứ Xuyên và chiếm 77,1%, tiếp đến là gò đồi (12,9%), đồng bằng (5,3%) và cao nguyên (4,7%). Tứ Xuyên có đặc điểm tây cao đông thấp một cách rõ rệt, các cao nguyên ở tây bắc và núi non ở tây nam cao trên 4.000 m so với mực nước biển, các bồn địa và gò đồi ở phía đông cao từ 1000-3000 mét so với mực nước biển. Địa hình Tứ Xuyên phức tạp và đa dạng, bao gồm bồn địa Tứ Xuyên với diện tích trên 160.000 km² (song chia sẻ với Trùng Khánh); cao nguyên Thanh-Tạng và dãy núi Hoành Đoạn ở phía tây; phía nam liền với cao nguyên Vân-Quý. Phía bắc bồn địa Tứ Xuyên là Mễ Thương Sơn (米仓山) và đây cũng là ranh giới tự nhiên giữa Tứ Xuyên với Thiểm Tây, phía nam bồn địa là Đại Lâu Sơn (大娄山), phía đông bồn địa là dãy núi Vu Sơn (巫山), phía tây bồn địa là Cung Lai Sơn (邛崃山), phía tây bắc bồn địa là Long Môn Sơn, đông bắc là Đại Ba Sơn (大巴山), đông nam bồn địa là Đại Lương Sơn (大凉山). Đỉnh cao nhất tại Tứ Xuyên là Cống Ca Sơn (贡嘎山) thuộc dãy núi Đại Tuyết Sơn với cao độ 7.556 mét so với mực nước biển. Đứt gãy Long Môn Sơn (龙门山断层) là nguyên nhân gây nên trận động đất Tứ Xuyên vào năm 2008, đứt gãy này nằm ở ranh giới phía đông của cao nguyên Thanh Tạng. Tại khu vực đứt gãy, độ cao tăng từ 600m so với mực nước biển tại khu vực phía nam bồn địa Tứ Xuyên lên đến độ cao trên 6500 m của cao nguyên Thang Tạng trong một khoảng cách dưới 50 km.

Thủy văn

Tứ Xuyên Tê Ngưu Hải (犀牛海), hồ lớn thứ hai tại Khu thắng cảnh Cửu Trại Câu

Phần phía bắc châu Ngawa thuộc lưu vực Hoàng Hà, tại châu này, Hoàng Hà tạo thành một đoạn ranh giới tự nhiên giữa Tứ Xuyên và Cam Túc, tại Ngawa có hai chi lưu đáng kể của Hoàng Hà là Bạch Hà và Hắc Hà. Toàn bộ phần còn lại của Tứ Xuyên thuộc lưu vực Trường Giang. Tứ Xuyên là một trong hai tỉnh duy nhất có cả Trường Giang và Hoàng Hà chảy qua địa bàn. Trường Giang là sông lớn nhất chảy qua Tứ Xuyên, đoạn thượng du của Trường Giang gọi là sông Kim Sa, đoạn sông này cũng tạo thành toàn bộ đường ranh giới tự nhiên giữa Tứ Xuyên và khu tự trị Tây Tạng. Các chi lưu chủ yếu của Trường Giang trên địa phận Tứ Xuyên là sông Nhã Lung (dài 1.637 km), sông Dân [1.062 km, bao gồm sông Đại Độ (1.155 km) và sông Thanh Y], sông Đà (702 km), sông Gia Lăng [1.119 km, bao gồm sông Phù (700 km) và sông Cừ (720 km)], sông Xích Thủy (436,5 km). Tổng cộng, Tứ Xuyên có tới 1.400 sông lớn nhỏ, còn gọi là “tỉnh nghìn sông” (thiên hà chi tỉnh).

Tổng lượng tài nguyên nước của Tứ Xuyên ước tính đạt 348,97 tỉ m³. Lượng tài nguyên nước ngầm của Tứ Xuyên là 54,69 tỉ m³, có thể khai thác 15,5 tỉ m³. Tứ Xuyên có hơn 1.000 hồ và 200 sông băng, cũng có một diện tích đầm lầy nhất định, phân bố nhiều tại tây bắc và tây nam, tổng lượng nước của các hồ trên địa bàn là 1,5 tỉ m³, cộng với lượng nước trong các đầm lầy thì lên đến 3,5 tỉ m². Các hồ nổi tiếng tại Tứ Xuyên là Cung Hải (邛海) và hồ Lô Cô (泸沽湖), khu vực Zoigê ở bắc bộ Tứ Xuyến là khu vực đầm lầy trọng yếu tại Trung Quốc.

Khí hậu

Tứ Xuyên Sông băng Hải Loa Câu (海螺沟) bên dưới Cống Ca Sơn, đỉnh núi cao nhất Tứ Xuyên

Do ảnh hưởng của địa hình và gió mùa, khí hậu trong tỉnh Tứ Xuyên có sự đa dạng. Nói chung, bồn địa Tứ Xuyên ở đông bộ Tứ Xuyên có khí hậu cận nhiệt đới ẩm, song tại khu vực cao nguyên phía tây do chịu ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu biến đối dần từ cận nhiệt đới đến cận hàn đới với các vùng đất đóng băng vĩnh cửu, trong đó khu vực tây nam có khí hậu cận nhiệt đới bán ẩm còn khu cực tây bắc có khí hậu hàn đới cao nguyên núi cao. Khu vực bồn địa Tứ Xuyên có từ 900-1600 giờ nắng mỗi năm, là khu vực có số giờ nắng thấp nhất Trung Quốc. Do điều kiện khí hậu đa dạng, Tứ Xuyên có nhiều loại đất, tài nguyên động thực vật và cảnh quan địa lý khác nhau, tạo thuận lợi cho phát triển một nền nông-lâm nghiệp và du lịch đa dạng.

Bồn địa Tứ Xuyên có nhiệt độ trung bình năm là từ 14-19 °C, cao hơn khoảng 1 °C so với các vùng cùng vĩ độ ở trung hạ du Trường Giang. Trong đó, tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ không khí bình quân là từ 3-8 °C, tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ bình quân là 25-29 °C, nhiệt độ mùa xuân và mùa thu gần với nhiệt độ trung bình năm, Khu vực có bốn mùa rõ rệt, trong năm có từ 280-300 ngày không có sương giá. Vùng cao nguyên phía tây đại bộ phận có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn 8 °C, nhiệt độ trung bình tháng 1 là khoảng -5 °C và nhiệt độ tháng 7 là từ 10-15 °C, suốt cả năm không có mùa hè, mùa đông kéo dài. Tuy nhiên, tại vùng núi tây nam Tứ Xuyên, nhiệt độ bình quân của vùng thung lũng là 15-20 °C, còn của vùng núi là 5-15 °C.

Đại bộ phận bồn địa Tứ Xuyên có lượng giáng thủy hàng năm là từ 900–1200 mm, trong đó những nơi nằm gần vùng núi bao quanh thì có lượng mưa cao hơn những nơi nằm sâu trong bồn địa, khu vực giáp núi phía tây của bồn địa có lượng mưa lớn nhất toàn tỉnh với 1.300-1.800 mm, vì thế thành phố Nhã An còn được gọi là “vũ thành”, Liễu Tông Nguyên từng thuyết pháp “Thục khuyển phệ nhật” (Chó đất Thục sủa mặt trời, ý chỉ nhọc công làm điều vô ích). Theo mùa, lượng giáng thủy vào mùa đông là thấp nhất, chỉ chiếm từ 3-5% tổng lượng mưa hàng năm, mùa hè có lượng giáng thủy lớn nhất, chiếm 80% tổng lượng mưa hàng năm. Đại bộ phận vùng cao nguyên phía tây Tứ Xuyên có lượng mưa thấp, lượng giáng thủy hàng năm là từ 600–700 mm, trong đó thung lũng sông Kim Sa chỉ có 400 mm, là khu vực khô hạn nhất của tỉnh. Tại các khu vực có một mùa mưa rõ ràng, mùa này sẽ diễn ra trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 9, lượng mưa chiếm 70-90% của cả năm; tháng 11 đến tháng 4 là mùa khô. Khu vực tây nam Tứ Xuyên có lượng giáng thủy khác biệt lớn, có một mùa mưa rõ ràng. Trong nhiều năm, lượng giáng thủy bình quân của Tứ Xuyên là 488,975 tỉ m³.

Sinh vật


Tứ Xuyên Những con gấu trúc lớn tại Cơ sở nghiên cứu gây giống gấu trúc lớn Thành Đô (成都大熊猫繁育研究基地)

Tỉnh Tứ Xuyên rất phong phú về tài nguyên sinh vật, có nhiều loài động thực vật quý hiếm và cổ xưa, là ngân hàng gen sinh học quý giá của Trung Quốc cũng như thế giới.

Tứ Xuyên có nhiều loài thực vật. Toàn tỉnh có gần 10.000 loài thực vật có phôi, chiếm 1/3 tổng số thực vật có phôi của cả nước và chỉ xếp thứ hai sau Vân Nam. Trong đó, có hơn 500 loài rêu, có hơn 230 họ và hơn 1.620 chi thực vật có mạch; có 708 loài dương xỉ; có hơn 100 loài thực vật hạt trần; có hơn 8.500 loài thực vật có hoa; có 87 loài tùng, sam, bách và ở vị trí đứng đầu cả nước. Tứ Xuyên có 84 loài thực vật quý hiếm nguy cấp được bảo hộ cấp quốc gia, chiếm 21,6% của cả nước. Số loài thực vật hoang dã có giá trị kinh tế là hơn 5.500 loài, trong đó số loài thực vật có thể dùng làm thuốc là hơn 4.600 loài, tổng sản lượng dược thảo Trung dược của Tứ Xuyên chiếm 1/3 và đứng đầu tại Trung Quốc. Tứ Xuyên cũng có trên 300 loài thực vật có thể dùng làm hương liệu, là địa phương sản xuất dầu thơm lớn nhất cả nước. Tứ Xuyên có nhiều loài cây có quả hoang dã, phong phú nhất là dương đào. Tứ Xuyên có tài nguyên nấm phong phú, trong hoang dã có 1.291 loài nấm, chiếm 95% của Trung Quốc. Tỷ lệ che phủ rừng của Tứ Xuyên là 31,3%, trữ lượng gỗ đứng thứ hai tại Trung Quốc.

Tứ Xuyên cũng có tài nguyên động vật phong phú, toàn tỉnh có 1.246 loài động vật có xương sống, chiếm hơn 45% số loài này của Trung Quốc, các loài thú và chim chiếm 53% số các loài này của cả nước. Trong đó, có 217 loài thú, 625 loài chim, 84 loài bò sát, 90 loài lưỡng cư, 230 loài cá. Tứ Xuyên có 144 loài động vật hoang dã được bảo hộ trọng điểm cấp quốc gia, chiếm 39,6 toàn quốc, cũng xếp hạng cao nhất Trung Quốc. Năm 2011, Tứ Xuyên có khoảng 1.206 cá thể gấu trúc lớn, chiếm 76% cá thể loài này trên toàn quốc. Có hơn 50% số loài động vật tại Tứ Xuyên có giá trị về kinh tế. Tứ Xuyên có rất phong phú về trĩ, có 20 loài thuộc họ Trĩ, chiếm 40% số loài thuộc họ Trĩ tại Trung Quốc, trong đó các loài trĩ quý hiếm và được bảo hộ cấp một quốc gia như Tetraophasis obscurus, gà so Tứ Xuyên (Arborophila rufipectus), Lophophorus lhuysii.

Nhân khẩu


Tứ Xuyên Những người Tạng ở châu Ngawa, phía tây Tứ Xuyên

Đến cuối năm 2011, số nhân khẩu thường trú tại Tứ Xuyên là 80,5 triệu người, tăng 80.000 người so với năm trước. Trong đó, nhân khẩu đô thị là 33,67 triệu người (41,83%), nhân khẩu nông thôn là 46,83 triệu người. Trong năm này, Tứ Xuyên có 788.800 trẻ được sinh ra trong khi có 548.700 người tử vong, tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên của tỉnh là 0,298%. Cuối năm 2007, tổng nhân khẩu của Tứ Xuyên là 88,152 triệu người, trong đó nam có 45,664 triệu người và nữ có 42,488 triệu người, tỷ lệ tăng trưởng dân số tự nhiên so với năm trước là 0,29%. Trong những năm gần đây, Tứ Xuyên thặng dư lao động, vì thế đã trở thành nguồn cung lao động ngoại tỉnh lớn nhất tại Trung Quốc.

Trước khi Trùng Khánh trở thành một “trực hạt thị”, Tứ Xuyên là tỉnh đông dân nhất Trung Quốc. Do có số nhân khẩu lớn, số lượng người tăng trưởng tuyệt đối hàng năm của Tứ Xuyên cũng rất lớn. Từ năm 1980, khi Trung Quốc thi hành chính sách kế hoạch hóa sinh sản, tốc độ tăng trưởng nhân khẩu của Tứ Xuyên xuống thấp hơn so với trước, song phải đối mặt với tình trạng lão hóa dân số. Cũng như nhiều tỉnh khác tại Trung Quốc, nhiều gia đình tại nông thôn có tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, gây nên hiện tượng mất cân bằng tỷ lệ giới tính.

Dân tộc

Tỉnh Tứ Xuyên là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, có mặt tất cả các dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Người Hán là dân tộc chủ yếu tại Tứ Xuyên, trong đó phân nhóm chủ thể là người Ba Thục, ngoài ra còn có người Khách Gia, người Hồ Tương. Tổng nhân khẩu của các dân tộc thiểu số vào năm 2011 là 4,22 triệu người. Có 14 dân tộc thiểu số đã sinh sống nhiều đời tại Tứ Xuyên là Di, Tạng, Khương, Miêu, Hồi, Mông Cổ, Thổ Gia, Lật Túc, Mãn, Nạp Tây, Bố Y, Bạch, Choang, Thái. Các dân tộc thiếu số có số lượng đáng kể tại Tứ Xuyên là người Di (2,12 triệu), người Tạng (1,27 triệu), người Khương (300.000), người Miêu (150.000). Các dân tộc thiểu số tại Tứ Xuyên chủ yếu cư trú tại châu tự trị dân tộc Di-Lương Sơn, châu tự trị dân tộc Tạng-Garzê, châu tự trị dân tộc Tạng và dân tộc Khương-Ngawa cùng huyện tự trị dân tộc Di-Mã Biên và huyện tự trị dân tộc Di-Nga Biên, huyện tự trị dân tộc Khương-Bắc Xuyên và huyện tự trị dân tộc Tạng-Mộc Lý.

Ngôn ngữ

Tứ Xuyên Các phương ngôn của tiếng Tứ Xuyên

Ngôn ngữ thông dụng của người Tứ Xuyên được gọi là tiếng Tứ Xuyên (Tứ Xuyên thoại), thuộc nhánh Quan thoại Tây Nam của tiếng Hán. Tiếng Tứ Xuyên hiện nay có khoảng 120 triệu người sử dụng, nếu như xem nó là một ngôn ngữ độc lập, số người sử dụng tiếng Tứ Xuyên sẽ đứng ở vị trí thứ 10 thế giới, thấp hơn tiếng Nhật và cao hơn tiếng Đức. Tiếng Tứ Xuyên hiện nay hình thành từ thời kỳ vận động đại di dân “Hồ Quảng điền Tứ Xuyên” những năm Nguyên mạt Minh sơ, tiếng Ba Thục được lưu hành trước đó đã dung hợp với các phương ngôn của những di dân đến từ Hồ Quảng và Lưỡng Quảng, tiếng Tứ Xuyên có liên hệ mật thiết với tiếng Tương và tiếng Cám trong nhánh phương Nam của tiếng Hán.

Ngoài tiếng Tứ Xuyên, tại tỉnh Tứ Xuyên còn có tiếng Khách Gia (Thổ Quảng Đông) và tiếng Tương (Lão Hồ Quảng), với các đảo ngôn ngữ phân bố tại các khu vực của Tứ Xuyên. Trong đó, những người nói tiếng Thổ Quảng Đông chủ yếu tập trung tại vùng gò đồi ở vùng biên của đồng bằng Thành Đô, vùng gò đồi Xuyên Trung và vùng núi non Xuyên Bắc, với tổng cộng 1 triệu người; những người nói tiếng Lão Hồ Quảng tập trung chủ yếu tại vùng gò đồi trung thượng du sông Đà, tổng số khoảng 900.000 người.

Ngoài ra, các dân tộc thiểu số tại Tứ Xuyên cũng sử dụng ngôn ngữ của mình như tiếng Di, tiếng Khương, các phương ngữ tiếng Tạng tại Tứ Xuyên là tiếng Kham và tiếng Gia Nhung (嘉绒语).

Tôn giáo

Tứ Xuyên Thanh Dương cung (青羊宫) tại Thành Đô, được hình thành từ thời nhà Chu, công trình hiện nay được tái xây dựng vào những năm Khang Hy

Tôn giáo tại Tứ Xuyên

  Tín ngưỡng truyền thống Trung Hoa (71.31%)  Phật giáo (15%)  Tôn giáo khác (10.6%)  Thiên Sư đạo (2.4%)  Kitô giáo (0.68%)  Hồi giáo (0.1%)

  • Đạo giáo: Tứ Xuyên là vùng phát nguyên của Đạo giáo. Vào năm Hán An thứ nhất (142) thời Hán Thuận Đế, Trương Lăng vào Ba Thục, tu đạo ở núi Hạc Minh Sơn (鶴鳴山, cũng gọi Cốc Minh Sơn 鵠鳴山), tự xưng được Thái Thượng Lão Quân truyền đạo Chính Nhất Minh Uy, nên xưng là Tam Thiên Pháp Sư Chính Nhất Chân Nhân 三天法師正一真人; còn nói Lão Quân phong ông làm Thiên Sư, nên đạo này cũng gọi là Thiên Sư Đạo. Đạo giáo vẫn có ảnh hưởng đáng kể đối với Tứ Xuyên, điểm sinh hoạt Đạo giáo núi Thanh Thành là một di sản thế giới và cũng là một trong tứ đại danh sơn của Đạo giáo, ngoài ra còn có Thanh Dương cung tại khu vực đô thị của Thành Đô.
  • Phật giáo: không rõ Phật giáo đã truyền đến bồn địa Tứ Xuyên từ khi nào. Căn cứ theo các chí và ký của địa phương thì có thể suy ra là từ đời Hán, có văn tự đã chép lại việc vào năm Hưng Ninh thứ 3 (365) thời Tấn Ai Đế, có tăng nhân từ Trung Nguyên đến Tứ Xuyên, đã đóng vai trò đột phá cho sự phát triển của Phật giáo tại Tứ Xuyên. Các ngôi miếu chùa Phật giáo nổi tiếng của Tứ Xuyên có Văn Thù viện (文殊院) và Đại Từ tự (大慈寺) và chùa Bảo Quang (宝光寺) tại Thành Đô; Báo Quốc tự (报国寺) và Vạn Niên tự tại Nga Mi sơn. Nga Mi sơn cũng là một trong tứ đại danh sơn của Phật giáo Trung Quốc. Phật giáo Tây Tạng phát triển rộng rãi ở khu vực dân tộc thiểu số ở tây bộ Tứ Xuyên. Các tu viện Phật giáo Tây Tạng tại tây bộ Tứ Xuyên là chùa Achen, chùa Anque, chùa Bongen, chùa Dargye, chùa Den, chùa Dontok, chùa Dzogchen, chùa Dzongsar, chùa Gongchen, chùa Garzê, chùa Jingang, chùa Kanze, chùa Katok, chùa Khangmar, chùa Kharnang, chùa Nanwu Si, chùa Palpung, chùa Pelyul, chùa Sershul, chùa Shechen, chùa Tongkor, chùa Tsangmotang.
  • Tin Lành: năm Đồng Trị thứ 7 (1868), Griffith John của Hội Truyền giáo Luân Đôn và James Aitken Wylie của Hội Truyền giáo Thế giới BMS đã tiến vào Tứ Xuyên truyền giáo. Đến tháng 10 năm 1999, Tứ Xuyên có 106 điểm sinh hoạt Tin Lành.
  • Công giáo: Công giáo bắt đầu truyền bá tại Tứ Xuyên từ năm Sùng Trinh thứ 13 (1640). Khi đó, một linh mục Dòng Tên là Lodovico Buglio đã từ Bắc Kinh đến Tứ Xuyên truyền giáo.
  • Hồi giáo: vào thời Đường mạt và Ngũ Đại Thập Quốc, tại Tứ Xuyên đã có người Hồi giáo sinh sống, đến thế kỷ thứ X thì tôn giáo này được truyền bá trong khu vực với quy mô lớn, thời Thanh là thời kỳ phồn vinh của Hồi giáo tại Tứ Xuyên. Các tín đồ Hồi giáo tại Tứ Xuyên theo hệ phái Sunni.

Các đơn vị hành chính


Bài chi tiết: Danh sách các đơn vị hành chính tỉnh Tứ Xuyên

Tứ Xuyên có 18 thành phố (địa cấp thị) và 3 châu tự trị:

Bản đồ # Tên gọi Thủ phủ Chữ Hán
Bính âm
Dân số (2010) Diện tích
(km²)
Tứ Xuyên Cầu Bỉnh Thảo Cương (炳草岗大桥), bắc qua sông Kim Sa tại Phàn Chi Hoa

Do ảnh hưởng của địa hình, giao thông của Tứ Xuyên không có nhiều thuận lợi, người Trung Quốc có câu “Thục đạo nan” (蜀道难, tức đường đến Tứ Xuyên khó khăn). Kể từ thời cận đại đến nay, các ngành giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không, đường ống tại Tứ Xuyên liên tục được cải thiện. Tính quan trọng về vận chuyển hàng hóa của Tứ Xuyên thấp hơn vận chuyển hành khách.

Đường bộ

Đến cuối năm 2008, tổng chiều dài công lộ đã thông xe của Tứ Xuyên là 200.500 km, đứng đầu cả nước, song vì là tỉnh có diện tích lớn nên vẫn tụt hậu. Đến cuối năm 2007 thì Tứ Xuyên có 14.000 km đường cấp hai, năm 2008 có 2.162 km đường cao tốc. Một số tuyến đường cao tốc tại Tứ Xuyên là: Thành Đô-Trùng Khánh, Thành Đô-Miên Dương, Miên Dương-Quảng Nguyên, Thành Đô-Nam Sung, Thành Đô-Lạc Sơn, Thành Đô-Nhã An, Thành Đô-Đô Giang Yển, Thành-Ôn-Cung (quanh Thành Đô), Thành Đô-Bành Châu, vòng quanh Thành Đô, Đô Giang Yển-Mân Xuyên, Nội Giang-Nghi Tân, Nghi Tân-Thủy Phú (Vân Nam), Long Xương-Nạp Khê, Toại Ninh-Trùng Khánh, Nam Sung-Trùng Khánh (bộ phận của tuyến Lan Châu-Hải Khẩu), Nam Sung-Quảng An, Đạt Châu-Trùng Khánh, Nhã An-Tây Xương, Miên Dương-Toại Ninh, đường cao tốc Thành Miên, Thành Đô-Thập Phương-Miên Trúc. Đến cuối năm 2011, tỉnh Tứ Xuyên đã có 283.000 km công lộ, trong đó có 3.009 công lộ cao tốc, quốc lộ và tỉnh lộ là 19.700 km, công lộ nông thôn là 258.700 km. Năm 2011, hệ thống công lộ của tỉnh đã phục vụ vận chuyển được 2,426 tỉ lượt người và 1,998 tỉ tấn hàng hóa.

Đường sắt

Năm 2011, tổng chiều dài đường sắt đã thông tuyến của Tứ Xuyên là 3.564 km, trong năm này, mạng lưới đường sắt Tứ Xuyên đã vận chuyển được 78,6 tỉ tấn.km hàng hóa và 2.95 tỉ người.km hành khách. Tuy nhiên, mật độ đường sắt của Tứ Xuyên so với cả nước là rất thấp. Các tuyến đường sắt đi trên địa phận Tứ Xuyên là Bảo Kê-Thành Đô, Thành Đô-Trùng Khánh, Thành Đô-Côn Minh, Nội Giang-Côn Minh, Đạt Châu-Thành Đô, Toại Ninh-Trùng Khánh. Cục Đường sắt Thành Đô quản lý mạng lưới đường sắt quốc hữu và hợp doanh tại Tứ Xuyên, Trùng Khánh và Quý Châu. Một số tuyến đường khác đã và đang trong quá trình thi công là Thành Đô-Miên Dương-Lạc Sơn, Thành Đô-Trùng Khánh, Thành Đô-Lan Châu, Lan Châu-Trùng Khánh, Thành Đô-Quý Dương, Tứ Xuyên-Thanh Hải, Tứ Xuyên-Tây Tạng, Tây An-Thành Đô cùng các tuyến đường khác.

Hàng không

Tứ Xuyên Nhà ga thứ hai của sân bay quốc tế Song Lưu Thành Đô (trong ảnh đang trong thời gian xây dựng)

Các sân bay có các tuyến bay hành không dân dụng định kỳ tại Tứ Xuyên bao gồm Sân bay quốc tế Song Lưu Thành Đô, sân bay Cửu Trại Hoàng Long, sân bay Thanh Sơn Tây Xương, sân bay Nam Giao Miên Dương, sân bay Bảo An Doanh Phàn Chi Hoa, sân bay Thái Bá Nghi Tân, sân bay Lam Điền Lô Châu, sân bay Hà Thị Đạt Châu, sân bay Nam Bình Cao Sung, sân bay Khang Định, sân bay Bàn Long Quảng Nguyên. Năm 2009, sân bay Song Lưu Thành Đô đã sử dụng đường băng thứ hai. Thành Đô cũng là thành phố có sân bay với hai đường băng thứ 4 tại Trung Quốc đại lục sau Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu. Hiện nay, tại Thành Đô có trụ sở của chi nhánh Tây Nam thuộc Air China, cùng Sichuan Airlines, và Chengdu Airlines, ba công ty này đặt sân bay căn cứ tại sân bay quốc tế Song Lưu Thành Đô. Năm 2011, Tứ Xuyên có 31 tuyến bay hàng không, trong đó có 10 tuyến bay quốc tế. Năm 2011, các sân bay của tỉnh đã phục vụ được trên 33 triệu lượt hành khách, lượng hàng hóa vận chuyển là 494.000 tấn.

Đường thủy

Tứ Xuyên có cả vạn km tuyến đường thủy nội địa, trong đó các tuyến cấp 3 đến cấp 7 có tổng chiều dài 4.026 km (năm 2006). Sáu cảng sông một năm vận chuyển trên 1 triệu tấn hàng hóa, Đoạn Trường Giang tại Tứ Xuyên là tuyến thông hành cấp 3, còn các sông Gia Lăng và sông Dân được liệt là một trong 10 tuyến đường thủy cấp cao tại Trung Quốc. Tứ Xuyên cũng tiến hành quy mô hóa, chuyên sâu hóa và hiện đại hóa các cụm cảng Lô Châu-Nghi Tân-Lạc Sơn ở Xuyên Nam và Quảng An-Nam Sung-Quảng Nguyên ở Đông Bắc. Năm 2011, tổng lượng hàng hóa thông quan tại các cảng sông của Tứ Xuyên là 70,75 triệu tấn, và vận chuyển được 30,83 triệu lượt người.

Đường ống

Tứ Xuyên là tỉnh phát triển mạng lưới vận chuyển đường ống lớn nhất tại Trung Quốc. Tại Tứ Xuyên, mạng đường ống vận chuyển khí thiên nhiên đã được xây dựng từ năm 1243, sớm hơn gần 500 năm so với các tỉnh khác. Từ thời Tống, người dân Tứ Xuyên đã biết dùng các ống tre trúc để vận chuyển khí thiên nhiên, các đường ống dẫn khí bằng thép bắt đầu được sử dụng từ năm 1933. Từ thập niên 1950, các đường ống dẫn khí đã đưa khí thiên nhiên đến các thành thị dọc tuyến Thành Đô-Trùng Khánh. Đến đầu năm 2008, Tứ Xuyên đã có 7.000 km đường ống thu khí và 6.000 km đường ống dẫn khí, chiều dài toàn mạng lưới đường ống dẫn khí thiên nhiên của Tứ Xuyên chiếm 46% toàn Trung Quốc.

Du lịch


Tứ Xuyên Khu thắng cảnh Hoàng Long

Tứ Xuyên có tài nguyên du lịch phong phú, với cảnh quan tự nhiên đẹp, có văn hóa và lịch sử lâu dài, phong tục dân tộc độc đáo. Tài nguyên du lịch của Tứ Xuyên về cả số lượng và chất lượng đều vào hàng đứng đầu tại Trung Quốc, là một khu vực du lịch nổi tiếng của Trung Quốc. Tứ Xuyên có năm di sản thế giới, bao gồm ba di sản tự nhiên là Cửu Trại Câu, Hoàng Long, Khu bảo tồn gấu trúc Lớn; một di sản văn hóa là núi Thanh Thành-hệ thống tưới tiêu Đô Giang Yển; một di sản tự nhiên và văn hóa là Nga Mi sơn-Lạc Sơn Đại Phật. Đến năm 2011, Tứ Xuyên có 14 điểm danh thắng phong cảnh trọng điểm cấp quốc gia, 74 điểm danh thắng phong cảnh cấp tỉnh. Thanh Thành sơn-Đô Giang Yển, Nga Mi sơn, Cửu Trại Câu là những thắng cảnh cấp 5A tại Trung Quốc. Tứ Xuyên có 156 điểm danh lam thắng cảnh cấp A. Tổng cộng Tứ Xuyên có 166 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích 89.100 km², chiếm 18,4% diện tích toàn tỉnh, có sáu khu bảo tồn tự nhiên loài gấu trúc lớn là Ngọa Long, Phong Dũng Trại (蜂桶寨), Lạt Bá Hà (喇叭河), Thảo Pha (草坡), An Tử Hà (鞍子河), Hắc Thủy Hà (黑水河), chúng cũng là các khu bảo tồn quan trọng nhất của loài vật quý hiếm này trên thế giới. Tứ Xuyên có 103 công viên rừng, quản lý tổng diện tích 741.000 ha (7.410 km²), chiếm 1,5% diện tích toàn tỉnh. Tứ Xuyên có cấu tạo địa chất phức tạp, cảnh quan địa chất địa mạo đa dạng, đã phát hiện được trên 220 di tích địa chất, trong đó có hai công viên địa chất cấp thế giới ở Hưng Văn và Tự Cống, ngoài ra còn có 14 công viên địa chất cấp quốc gia, số lượng cao nhất tại Trung Quốc. Tứ Xuyên có bảy danh thành văn hóa-lịch sử cấp quốc gia, có 128 điểm bảo vệ văn vật trọng điểm cấp quốc gia và 576 điểm bảo vệ văn vật trong điểm cấp tỉnh.

Văn hoá


Tứ Xuyên Món La tử kê (辣子鸡, gà ớt, gà cay)

Đền tưởng niệm Lý Bạch, được xây tại nơi sinh của ông là thị trấn Trọng Ba thuộc phía bắc huyện Giang Du trong tỉnh Tứ Xuyên, là một viện bảo tàng tưởng niệm Lý Bạch, một thi sĩ thời Nhà Đường (618-907). Nó được bắt đầu xây dựng vào năm 1962 nhân dịp lễ kỷ niệm 1.200 năm ngày ông mất, hoàn thành năm 1981 và mở cửa cho công chúng vào tháng 10 năm 1982. Đền tưởng niệm được xây theo lối kiến trúc hoa viên cổ thời Nhà Đường. Do yếu tố địa lý và xã hội nông nghiệp, khu vực Tứ Xuyên tồn tại một số “ý thức bồn địa” và “tư tưởng tiểu nông”. Người xưa có câu “Tự cổ văn nhân đa nhập Thục” để nói về sự phát triển văn học của Tứ Xuyên. Xuyên kịch, Xuyên trà, Xuyên tửu, Xuyên thái (ẩm thực), Xuyên dược và Thục tú (thêu), Thục cẩm là các đặc sản đặc sắc của Tứ Xuyên.

Ẩm thực Tứ Xuyên

Bài chi tiết: Ẩm thực Tứ Xuyên

Các món ăn Tứ Xuyên có thể truy nguyên từ thời Tần Hán, đến thời Tống thì đã phát triển thành trường phái. Trường phái ẩm thực Tứ Xuyên là một trong 8 trường phái ẩm thực Trung Hoa, có đặc điểm là nhiều mùi vị và có độ nồng đậm, đặc biệt là cay do sử dụng nhiều tỏi và ớt, cũng như loại gia vị độc nhất vô nhị là tiêu Tứ Xuyên (花椒, hoa tiêu). Lạc, vừng, gừng cũng là những thành phần nổi bật trong ẩm thực Tứ Xuyên. Có nhiều biến thể khác nhau của âm thực Tứ Xuyên tại Tứ Xuyên và Trùng Khánh (là một phần của Tứ Xuyên cho đến năm 1997), bốn tiểu trường phái của ẩm thực Tứ Xuyên là Trùng Khánh, Thành Đô, Tự Cống và ăn chay Phật giáo. UNESCO đã tuyên bố Thành Đô là một thành phố mĩ thực học vào năm 2011, do sự tinh tế trong cách nấu nướng. Các phương thức nấu nướng cơ bản của ẩm thực Tứ Xuyên là xào, hấp, kho, và nếu liệt kê đầy đủ thì sẽ lên tới 38 phương thức chế biến riêng biệt.

Giáo dục


Tứ Xuyên Lầu chuông của Trung tâm Y học Hoa Tây thuộc Đại học Tứ Xuyên

  • Đại học Tứ Xuyên (四川大学)
  • Đại học Giao thông Tây Nam (西南交通大学)
  • Đại học Khoa học-Kỹ thuật Điện tử (电子科技大学)
  • Đại học Tài chính-Kinh tế Tây Nam (西南财经大学)
  • Đại học Dân tộc Tây Nam (西南民族大学)
  • Đại học Khoa học-Công nghệ Thành Đô (成都理工大学)
  • Đại học Trung Y-Dược Thành Đô (成都中医药大学)
  • Đại học Tây Hoa (西华大学)
  • Đại học Sư phạm Tứ Xuyên (四川师范大学)
  • Đại học Dầu mỏ Tây Nam (西南石油大学)
  • Học viện Công nghệ Thông tin Thành Đô (成都信息工程学院)
  • Học viện Y Thành Đô (成都医学院)
  • Học viện Thể dục Thành Đô (成都体育学院)
  • Học viện Âm nhạc Tứ Xuyên (四川音乐学院)
  • Học viện Thành Đô (成都学院)
  • Học viện Công nghiệp Thành Đô (成都工业学院)
  • Học viện Neusoft Thành Đô (成都东软学院)
  • Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên (四川农业大学)
  • Đại học Khoa học-Kỹ thuật Tây Nam (西南科技大学)
  • Học viện Sư phạm Miên Dương (绵阳师范学院)
  • Đại học Sư phạm Tây Hoa (西华师范大学)
  • Học viện Y học Xuyên Bắc (川北医学院)
  • Học viện Y Lô Châu (泸州医学院)
  • Học viện Cảnh sát Tứ Xuyên (四川警察学院)
  • Học viện Phi hành Hàng không dân dụng Trung Quốc (中国民用航空飞行学院)
  • Học viện Khoa học-Công nghệ Tứ Xuyên (四川理工学院)
  • Học viện Sư phạm Lạc Sơn (乐山师范学院)
  • Học viện Khoa học Xã hội Tứ Xuyên (四川文理学院)
  • Học viện Sư phạm Nội Giang (内江师范学院)
  • Học viện Dân tộc Tứ Xuyên (四川民族学院)
  • Học viện Nghi Tân (宜宾学院)
  • Học viện Phàn Chi Hoa (攀枝花学院)
  • Học viện Tây Xương (西昌学院)

Địa phương kết nghĩa


  • Tứ Xuyên Hoa Kỳ, Washington (1982)
  • Tứ Xuyên Hoa Kỳ, Michigan (1982)
  • Tứ Xuyên Nhật Bản, Hiroshima (1984)
  • Tứ Xuyên Nhật Bản, Yamanashi (1985)
  • Tứ Xuyên CHDCND Triều Tiên, Pyongan Nam (1985)
  • Tứ Xuyên Pháp, Midi-Pyrénées (1987)
  • Tứ Xuyên Đức, Nordrhein-Westfalen (1988)
  • Tứ Xuyên Anh, Leicestershire (1988)
  • Tứ Xuyên Ý, Piemonte (1990)
  • Tứ Xuyên Brasil, Pernambuco (1992)
  • Tứ Xuyên Hungary, Tolna (1993)
  • Tứ Xuyên Tây Ban Nha, Valencia (1994)
  • Tứ Xuyên Bỉ, Bruxelles (1995)
  • Tứ Xuyên Kazakhstan, Almaty (2001)
  • Tứ Xuyên Venezuela, Barinas (2001)
  • Tứ Xuyên Hà Lan, Friesland (2001)
  • Tứ Xuyên Nam Phi, Mpumalanga (2002)
  • Tứ Xuyên Hàn Quốc, Jeolla Nam (2004)
  • Tứ Xuyên Thái Lan, Suphanburi (2010)
Back to top button