Ngữ Văn

Top 6 Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn lớp 10 hay nhất (update)

Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” trích từ câu 193 đến câu 216 của tác phẩm “Chính phụ ngâm” nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn nôm: Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn hay nhất mà KTHN đã tổng hợp trong bài viết sau đây.

Hi vọng bài viết trên giúp các bạn chuẩn bị tốt kiến thức về bài học trước khi đến lớp. Chúc các bạn học tốt và tiếp tục theo dõi các bài soạn văn cũng như phân tích, phát biểu cảm nghĩ trên KTHN.vn.
Là top 3 tiêu chí mà KTHN.vn luôn luôn hướng tới để đem lại những thông tin hữu ích nhất cho cộng đồng

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 1

I. LÍ THUYẾT TRỌNG TÂM
1.Tám câu đầu : Nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ
– Nỗi cô đơn thể hiện qua hành động một mình dạo hiên vắng, buông, cuốn rèm nhiều lần, mong tin vui mà “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”.
– Nỗi cô đơn thể hiện qua sự đối bóng giữa người chinh phụ và ngọn đèn khuya ; vẫn chỉ là “Một mình mình biết, một mình mình hay”.
Hai khổ thơ đầu vẽ lên hình ảnh người chinh phụ lẻ loi ở mọi nơi, mọi lúc: lẻ loi trong căn phòng vắng, lẻ loi cả khi bước ra ngoài, lẻ loi ban ngày và lẻ loi, cô độc hơn trong cảnh đêm khuya… Người chinh phụ hết đứng lại ngồi, dạo quanh “hiên vắng”, “gieo” từng bước nặng nề, tấm rèm thưa hết buông xuống (rủ) lại cuốn lên (thác) nhiều lần, đặc biệt hình ảnh đối bóng với ngọn đèn trong căn phòng vắng đã cực tả cảnh lẻ loi, đơn chiếc. Hai khổ thơ kết thúc bằng một câu cảm thán với hai hình ảnh: “hoa đèn” và “bóng người”:
“Hoa đèn kia với bóng người khá thương !”

2. Tám câu tiếp : Nỗi sầu muộn triền miên
Nỗi sầu muộn được thể hiện qua cảm nhận về thời gian tâm lí. Người chinh phụ như đếm từng bước thời gian nặng nề trôi mà cảm nhận một khắc giờ “đằng đẵng như niên”.
Điều đó càng được tô đậm hơn bằng hai hình ảnh so sánh. “Khắc chờ đằng đẵng như niên” và “mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Một so sánh với chiều dài thời gian và một so sánh với chiều rộng không gian. Hai từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” càng như kéo dài, mở rộng nỗi cô đơn sầu muộn đến muôn trùng.
– Tiếng gà gáy : tăng thêm ấn tượng vắng vẻ, tịch mịch.
– Bóng cây hòe: cô đơn, hoang vắng.
– Để giải toả nỗi sầu, nàng cố tìm đến những thú vui như : soi gương, đốt hương, gảy đàn nhưng việc gì cũng chỉ là “gượng”. Sầu chẳng những không được giải toả mà còn nặng nề hơn.
Khổ thơ thứ tư diễn tả những gắng gượng của người chinh phụ mong thoát khỏi vòng vây cô đơn nhưng không thoát nổi (gượng đốt hương, gượng soi gương, gượng gảy khúc “sắt cầm”), nước mắt cứ đầm đìa. Những chữ “gượng” thật nặng nề, nghe thật xót xa, tội nghiệp.

3. Tám câu cuối : Nỗi nhớ thương đau đáu
– Nỗi nhớ được thể hiện qua một khao khát cháy bỏng – gửi lòng mình đến non Yên- mong được chồng thấu hiểu, sẻ chia. Mức độ của nỗi nhớ được gợi lên qua những từ láy thăm thẳm, đau đáu,…
– Hình ảnh thiên nhiên:
+ Non Yên, đường lên trời: vô tận, xa xôi, bát ngát
nỗi nhớ khôn nguôi.
+ Sương gió, mưa, tiếng côn trùng: lạnh lẽo, buồn nhớ, cô đơn.
+Từ láy: “thăm thẳm, đau đáu”
– Điệp ngữ bắc cầu: non Yên, trời thăm thẳm buồn nhớ triền miên, kéo dài.
– Khao khát của nàng không được đền đáp vì sự xa cách về không gian quá lớn (đường lên bằng trời).
Đề cao quyền sống, trân trọng khát vọng hạnh phúc lứa đôi của con người. (giá trị nhân đạo) gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa.


II. Trả lời câu hỏi sgk

Câu 1 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

– Ngọn đèn: Trong những đêm đơn lẻ, buồn khổ người thiếu phụ chỉ có ngọn đèn vô tri vô giác chia sẻ ưu tư

– Chim thước: không có tin tức của người nơi biên viễn

– Trong rèm, ngoài rèm: không gian cô quạnh dàn trải mênh mông

– Thời gian: trôi người thiếu phụ rơi vào tuyệt vọng và nỗi buồn mênh mang, cô đơn của con người.

– Tiếng gà: là âm thanh xuất hiện trong cái cô tịch của đêm

– Bóng cây hòe: gợi ra cảm giác hoang vắng, cô quạnh, bóng người sầu tê tái vì mong nhớ, khát khao

→ Nỗi cô đơn, buồn tủi chiếm lấy tâm trí người chinh phụ. Cảnh vật xung quanh dường như tô đậm hơn nỗi sầu kim cổ ấy.


Câu 2 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ:

– Người chinh phụ không lúc nào nguôi ngóng trông chồng, nỗi nhớ, nỗi đau khổ diễn ra mọi nơi, mọi lúc

+ Nỗi nhớ chồng dàn trải theo thời gian và không gian

+ Nhìn cảnh vật phản chiếu sự cô đơn, lẻ loi của bản thân

+ Nỗi cô đơn trùm lên ngoại cảnh, len vào sự vật, khiến nàng thốt lên lời sầu tủi

+ Người chinh phụ khát khao đoàn tụ nhưng lại rơi vào tuyệt vọng, bất hạnh

– Cuộc chiến tranh phi nghĩa đã chia rẽ tình vợ chồng, gây ra bi kịch cho người chinh phụ

– Người chinh phụ không còn thiết tha với bản thân, mọi hành động chỉ là “gượng” trong đau khổ, buồn tủi.

Câu 3 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

Người chinh phụ buồn đau thất vọng:

– Lo lắng cho sự an nguy của chồng nơi chiến trận

– Tuổi trẻ trôi qua trong hiu quạnh, hạnh phúc, tình yêu đôi lứa cũng mất theo

– Niềm tin vào cuộc sống mỏng manh, mờ nhạt

Câu 4 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

– Ngôn ngữ nhân vật, chủ yếu là ngôn ngữ nội tâm, nửa trực tiếp (vừa là nhân vật, vừa của tác giả

– Nhân vật bộc lộ gián tiếp thông qua cảnh vật, sự bối rối trong hành động thấy nhân vật đang buồn da diết, oán trách, than vãn cho hiện thực phũ phàng.

– Tâm trạng người chinh phụ thấy rõ sự thất vọng, tuyệt vọng

Câu 5 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

Nhạc điệu thể thơ lục bát:

– Dồi dào, có cái chắc khỏe, réo rắt của thể thơ thất ngôn

– Sự du dương, mềm mại của thể lục bát

– Có thể nhận thấy qua khổ “trời thăm thẳm… tiếng trùng mưa phun”

LUYỆN TẬP

Các biện pháp nghệ thuật được miêu tả trong đoạn thơ trên:

– Tả ngoại cảnh biểu hiện nội tâm

– Tả nội tâm qua ngoại hình

– Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ

Các tình huống thể hiện niềm vui như:

– Được tham dự kì thi học sinh giỏi toàn quốc

– Nhận được sự yêu mến của bạn bè, thầy cô

– Được tặng món quà yêu thích trong dịp sinh nhật

Tình huống thể hiện nỗi buồn:

– Bị điểm kém

– Đánh mất đồ vật yêu quý

– Chia tay người thân, bạn bè thân quý

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 2

Câu 1 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Hiên vắng (không gian mênh mông, vắng lặng)

– Trong những đêm cô đơn, buồn hổ, người thiếu phụ chỉ có ngọn đèn vô tri vô giác chia sẻ bao nỗi ưu tư. Nhà thơ tả ngọn đèn leo lét nhưng chính là để tả không gian mênh mang và sự cô đơn trầm lặng của con người.

– Tiếng gà là âm thanh duy nhất trong đêm nhưng nó ngay lập tức bị chìm đi trong cái cô tich của đêm.

– Bóng cây hòe gợi ra thêm cảm giác hoang vắng và đáng sợ mà thôi.

=> Cảnh vật quạnh hiu bởi lòng người đang sầu đau tê tái vì nỗi nhớ mong và sự khát khao hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng.


Câu 2 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ là những hành động lặp đi lặp lại, ngồi rủ rèm chờ đợi; thức cùng ngọn đèn leo lét trong đêm, hành động gượng gạo, chán chường.

– Trong đoạn trích này, hình ảnh người chinh phụ từng bước thầm lặng ngoài hiên vắng, và đặc biệt là hình ảnh con người ấy một mình ngồi với ngọn đèn trong phòng riêng vắng lặng là những dấu hiệu cực tả nỗi cô đơn trong cảnh lẻ lo của người chinh phụ.

– Từ ngữ trầm buồn : bi thiết, buồn rầu nói chẳng nên lời, đằng đẵng, mối sầu dằng dặc, hương gượng đốt, gương gượng soi, gượng gảy ngón đàn,… Cùng với câu hỏi tu từ : đèn biết chăng?


Câu 3 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Người chinh phụ buồn đau thất vọng, vì:

– Người chinh phụ càng khao khát đoàn tụ, khao khát cuộc sống vợ chồng bao nhiêu lại càng rơi vào tình cảnh tuyệt vọng bấy nhiêu. Đó là bi kịch khiến người chinh phụ đau khổ, bất hạnh.

– Nguyên nhân sâu xa dẫn đến nỗi đau khổ của người chinh phụ chính là cuộc chiến tranh phi nghĩa.


Câu 4 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Trong đoạn trích, người chinh phụ hầu như không nói. Vì thế ngôn ngữ của nhân vật chủ yếu là ngôn ngữ nội tâm hoặc là thứ ngôn ngữ kiểu nửa trực tiếp. Dù không trực tiếp bộc lộ tâm trạng của mình qua lời nói nhưng thông qua cảnh vật và sự bối rối trong hành động.


Câu 5 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Với thể thơ song thất lục bát, tất cả tiếng lòng sầu thương ai oán của người chinh phụ đã được tấu lên với giọng cao thấp, bổng trầm mà khó có thể thơ nào có thể diễn tả được như thế.

– Ngoài nhạc điệu vốn có của thể thơ song thất lục bát, giọng sầu thương bi thiết còn được tạo nên bởi cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh có giá trị gợi tả nỗi buồn, tình cảnh lẻ loi; các từ láy cùng với biện pháp điệp từ ngữ, lối đối cũng góp một phần không nhỏ vào việc tạo nên giọng điệu sầu bi ấy.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Các biện pháp nghệ thuật được miêu tả trong đoạn thơ trên:

– Tả ngoại cảnh biểu hiện nội tâm

– Tả nội tâm qua ngoại hình

– Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ

HS cần vận dụng các biện pháp nghệ thuật trên một cách linh hoạt. Nếu là tả tâm trạng vui thì tất cả đều phải ngược lại với tả tâm trạng buồn: ngoại cảnh sẽ tươi sáng, sinh động, tràn ngập màu sắc và ánh sáng, ngoại hình cũng như mọi cử chỉ, hành động phải tràn đầy sức sống, nhanh nhẹn, hoạt bát…

Bố cục

Bố cục: 2 phần

– Phần 1 (16 câu đầu): Nỗi cô đơn của người chinh phụ

– Phần 2 (còn lại): Nỗi thương nhớ chồng nơi xa

Nội dung chính

Những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 3

TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

I. Tác giả

– Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh, năm mất) người làng Nhẫn Mục, tên nôm là làng Mọc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội, sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.

– Về sáng tác, ngoài tác phẩm chính là Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán.

– Theo các tài liệu lịch sử, đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ gia người thân ra trận. Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm.

II. Tác phẩm

– Chinh phụ ngâm là một trong tác phẩm xuất sắc nói về người phụ nữ xưa và trích đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ chính là điểm nhấn sâu sắc nhất để khắc họa hình ảnh người chinh phụ có chồng đi chinh chiến.

– Chinh phụ ngâm, nguyên văn chữ Hán, do Đặng Trần Côn sáng tác, gồm 476 câu thơ làm theo thể trường đoản cú (câu thơ dài ngắn không đều nhau).

– Chinh phụ ngâm nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vốn ít được thơ văn các thời kì trước chú ý.

– Khúc ngâm đã được dịch sang thơ Nôm (tức thơ tiếng Việt) và được truyền bá rộng rãi hơn.

– Bản Nôm hiện hành là bản dịch thành công nhất, dùng thể thơ song thất lục bát song vấn đề dịch giả của bản này vẫn chưa rõ.

– Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ thuộc bản dịch hiện hành, viết về tình cảnh và tâm trạng người chính phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người chồng đi đánh trận, không có tin tức, không rõ ngày trở về.


ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1 – Trang 88 SGK

Phân tích diễn biến tâm trạng của người chinh phụ và nghệ thuật khắc hoạ tâm trạng của tác giả (Những dấu hiệu cho thấy sự cô đơn; ngôn ngữ của người chinh phụ và giá trị biểu cảm của nó; các yếu tố ngoại cảnh có tương quan với tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa diễn tả nội tâm của các yếu tố đó…).

Trả lời:

Hai khổ thơ đầu vẽ lên hình ảnh người chinh phụ lẻ loi ở mọi nơi, mọi lúc: lẻ loi trong căn phòng vắng, lẻ loi cả khi bước ra ngoài, lẻ loi ban ngày và lẻ loi, cô độc hơn trong cảnh đêm khuya. Người chinh phụ hết đứng lại ngồi, dạo quanh “hiên vắng”, “gieo” từng bước nặng nề, tấm rèm thưa hết buông xuống (rủ) lại cuộn lên (thác) nhiều lần, đặc biệt hình ảnh đối bóng với ngọn đèn trong căn phòng vắng đã cực tả cảnh lẻ loi, đơn chiếc. Hai khổ thơ kết thúc bằng một câu cảm thán với hai hình ảnh: “hoa đèn’’ và “bóng người”.

“Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Hai khổ thơ: khổ ba và bốn tiếp tục khắc họa diễn biến tâm trạng người chinh phụ. Tác giả xếp hai cảnh lẻ loi: ban đêm (Gà eo óc gáy sương năm trống) và ban ngày (Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên) cạnh nhau gợi cảnh lẻ loi, nỗi thất vọng triền miên, dằng dặc. Điều đó càng được tô đậm hơn bằng hai hình ảnh so sánh. “Khắc chờ đằng đẵng như niên” và “mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Một so sánh với chiều dài thời gian và một so sánh với chiều rộng không gian. Hai từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” càng như kéo dài, mở rộng nỗi cô đơn sầu muộn đến muôn trùng.

Khổ thơ thứ tư diễn tả những gắng gượng của người chinh phụ mong thoát khỏi vòng vây cô đơn nhưng không thoát nổi (gượng đốt hương, gượng soi gương, gượng gảy khúc “sắt cầm”), nước mắt cứ đầm đìa. Những chữ “gượng” thật nặng nề, nghe thật xót xa, tội nghiệp.

Bước sang khổ thơ thứ năm và sáu, tác giả đặt nhân vật trữ tình trong không gian có ý nghĩa phóng dụ “gió đông”, “non yên”, “đường lên bằng trời”… Tứ thơ toát ra khỏi căn phòng nhỏ hẹp, vươn ra không gian bát ngát, “thăm thẳm”. Những vần thơ “mênh mông vô tận như khối sầu tựa ngàn xưa” (Đặng Thai Mai). Thần sắc đoạn thơ tập trung ở những từ láy “đằng đẵng”, “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha”, nỗi nhớ vì thế có chiều dài, độ cao, độ sâu, có mệt mỏi héo mòn, có vời vợi mênh mang, có lo lắng day dứt và có chà xát, cắt cứa đến đau đớn. Đoạn thơ diễn tả trực tiếp nội tâm nhân vật trữ tình. Cách điệp vần, điệp liên hoàn cộng hưởng với không gian và tâm trạng tạo âm hưởng lan toả triền miên, không dứt, nỗi buồn như ôm trùm cả vũ trụ khôn cùng…

Hai câu cuối đoạn miêu tả cảnh cành cây ướt đẫm sương đêm, tiếng côn trùng rên rỉ phun lên từ ruột đất. Người chinh phụ lọt thỏm vào đêm. Cảnh sương tuyết gió mưa buốt giá đồng hành với nỗi buốt giá lạnh lẽo của lòng người.


Câu 2 – Trang 88 SGK

Hãy cho biết vì sao người chinh phụ đau khổ?

Trả lời:

Đoạn trích diễn tả nỗi đau khổ tột đỉnh của người chinh phụ, đau khổ ở mọi nơi, mọi lúc, đau khổ trải ra trong không gian và dằng dặc theo thời gian. Nàng nhìn đâu cũng chỉ thấy tình cảnh lẻ loi của bản thân mình. Nỗi lạnh lẽo buốt giá từ cõi lòng người chinh phụ đã trùm lên ngoại cảnh, len lỏi vào các sự vật,… khiến nàng thốt lên những lời sầu tủi bi thiết. Nguyên nhân dẫn tới nỗi đau khổ của người chinh phụ thật dễ hiểu. Chồng nàng đi chinh chiến nơi chiến địa sa trường đã mấy mùa xuân bặt vô âm tín. Người chinh phụ đã phải chờ đợi… chờ đợi,…và chờ đợi đến héo mòn tuổi xuân, tưởng có lúc tuyệt vọng hoàn toàn. Người chinh phụ càng khao khát đoàn tụ, khao khát cuộc sống vợ chồng bao nhiêu lại càng rơi vào tình cảnh tuyệt vọng bấy nhiêu. Đó là bi kịch khiến người chinh phụ đau khổ, bất hạnh.

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến nỗi đau khổ của người chinh phụ chính là cuộc chiến tranh phi nghĩa mà vì nó vợ chồng nàng phải xa nhau, chồng “dãi thây trăm họ nên công một người” đã làm cho bao gia đình tan nát, bao tổ ấm trở nên lạnh lẽo. Bi kịch của người chinh phụ, vì thế là bi kịch có ý nghĩa tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa một cách mạnh mẽ, đồng thời qua đó cũng toát lên tiếng nói nhân đạo lớn lao của tác phẩm.

Câu 3 – Trang 88 SGK

Xác định những câu thơ là lời nói của người chinh phụ và cho biết giá trị biểu hiện của nó.

Trả lời:

Lời nói của người chinh phụ được thể hiện qua những câu thơ sau:

– Đèn có biết dường bằng chẳng biết

– Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

– Lòng này gửi gió đông có tiện

– … Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Việc đưa những lời trực tiếp đó làm cho lời văn trở nên sinh động hơn và góp phần làm nổi bật bi kịch tinh thần của người chinh phụ.

Câu 4 – Trang 88 SGK

Đọc diễn cảm đoạn trích (nếu ngâm được càng tốt). Hãy nhận xét về nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát (có so sánh với các thể thơ mà anh (chị) biết).

Trả lời:

Thể thơ song thất lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc ta. Bản thân cách cấu tạo câu thơ và vần luật của nó cũng đã tạo nên một thứ nhạc điệu lên bổng xuống trầm một cách linh hoạt, có khả năng diễn tả tài tình những cung bậc khác nhau của tâm trạng con người, Phan Huy Thực cũng đã dịch Tì bà hành của Bạch Cư Dị sang thể thơ này. Nguyễn Du dùng thể thơ này để khóc cho “thập loại chúng sinh” trong Văn chiêu hồn…

Chinh phụ ngâm là khúc ngâm dài (diễn tả mọi cung bậc của nỗi buồn triền miên ở người chinh phụ. Nguyên tác của Đặng Trần Côn được viết bằng chữ Hán, theo thể đoản trường cú (câu ngắn, câu dài xen nhau). Người dịch giả tài hoa Đoàn Thị Điểm – với một nỗi cảm thông kì lạ với nỗi lòng người chinh phụ đã dịch tác phẩm của Đặng Trần Côn sang bản chữ Nôm với thể thơ song thất lục bát vô cùng đắc địa. Có thể nói, chính nội dung tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình và sự đồng cảm cao độ của người nghệ sĩ đã bắt gập thể thơ song thất lục bát như một định mệnh để rồi tất cả tiếng lòng sầu thương ai oán của người chinh phụ đã được tấu lên với giọng cao thấp, bổng trầm mà khó có thể thơ nào có thể diễn tả được như thế.

Nếu khúc ngâm được viết bằng thể thơ khác thì chắc chắn hiệu quả biểu đạt sẽ không bằng thể song thất lục bát. Gần hơn cả với thể thơ này là thể thơ lục bát. Truyện Kiều của Nguyễn Du được viết bằng thể thơ này vì đó là một tiểu thuyết bằng thơ. Chinh phụ ngâm là một khúc ngâm có tính “độc diễn” tâm trạng. Nếu sử dụng thể thơ lục bát sẽ không tránh khỏi giọng đều đều bằng phẳng. Thể song thất lục bát đã khắc phục được điều đó.

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ngoài nhạc điệu vốn có của thể thơ song thất lục bát, giọng sầu thương bi thiết còn được tạo nên bởi cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh có giá trị gợi tả nỗi buồn, tình cảnh lẻ loi; các từ láy cùng với biện pháp điệp từ ngữ, lối đối cũng góp một phần không nhỏ vào việc tạo nên giọng điệu sầu bi ấy.


LUYỆN TẬP

Câu hỏi: Hãy vận dụng những biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoan trích để viết một đoạn văn (hoặc thơ) ngắn miêu tả một nỗi nhớ hay niềm vui của bản thân anh (chị).

Gợi ý:

Đoạn trích Tình cánh lẻ loi của người chinh phụ khắc họa tâm trạng buồn. Bài tập gợi mở cho người viết có thể khắc họa tâm trạng trong đoạn trích. Nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích có thể khái quát thành các ý cơ bản sau:

– Tả ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm

– Tả nội tâm qua ngoại hình

– Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ

Học sinh cần vận dụng các biện pháp nghệ thuật trên một cách linh hoạt. Nếu là tả tâm trạng vui thì tất cả đều phải ngược lại với tả tâm trạng buồn: ngoại cảnh sẽ tươi sáng, sinh động, tràn ngập màu sắc và ánh sáng, ngoại hình cũng như mọi cử chỉ, hành động phải tràn đầy sức sống, nhanh nhẹn, hoạt bát…

Ví dụ minh họa:

Tôi sung sướng hết đứng lại ngồi. Tôi chạy lại tủ sách, nhìn và thầm cảm ơn các cuốn sách đã giúp tôi thành công. Tôi chạy vội ra sân để ngắm nhìn một chân trời mới đang rộng mở đối với tôi. Tôi chạy vội sang nhà Nam báo cho bạn biết. Tôi sang nhà dì Hoa để khoe và lấy phần thưởng dì đã hứa cho tôi trước ngày thi. Tôi không thể nào ngồi yên được một chỗ…

GHI NHỚ

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 4

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn
Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm
2. Tác phẩm

* Thể thơ: song thất lục bát

* Bố cục: Văn bản có thể được chia làm 2 phần:

Phần 1: 16 câu thơ đầu: Nỗi cô đơn của người chinh phụ
Phần 2: 8 câu cuối: Nỗi nhớ thương của người chinh phụ với người chồng nơi xa.


II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Các yếu tố ngoại cảnh thể hiện tâm trạng người chinh phụ:

Hiên vắng: gợi ra một không gian mênh mang, vắng lặng
Ngọn đèn: chỉ thời gian là đêm khuya
Ban đêm tiếng gà eo óc, ban ngày hòe phất phơ
=> Ý nghĩa diễn tả nội tâm của các yếu tố trên: cảnh vật quạnh hiu bởi lòng người đang sầu đau tê tái vì nỗi nhớ mong và sự khát khao hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng, hay nói khác đi là cảnh vật như tô đậm thêm nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ.


Câu 2:

Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ:

Không gian, thời gian, hành động cứ lặp đi lặp lại trong hiên vắng, ngồi rủ rèm chờ đợi
Thức cùng ngọn đèn leo lắt trong đêm, hành động trở nên gượng gạo, chán chường
Từ ngữ diễn ra trầm buồn: bi thiết, buồn rầu nói chẳng nên lời, đằng đẵng, mối sầu dằng dặc, hương gượng đốt, gương gượng soi, gượng gảy ngón đàn,… Cùng với đó là câu hỏi tu từ: đèn biết chăng?
=> Nỗi cô đơn ghê gớm bủa vây lấy người chinh phụ.

Câu 3:

Người chinh phụ đau khổ bởi vì:

Chồng của nàng đã đi chinh chiến trên sa trường đã mấy năm, nàng chỉ biết chờ đợi và lo lắng cho sự an nguy của chồng.
Tuổi trẻ của nàng đang trôi qua vội vã và vô nghĩa, niềm tin vào cuộc sống của nàng đang dần mỏng manh và mờ nhạt hơn.
Tất cả những buồn đau mà người chinh phụ phải chịu đựng xuất phát từ nguyên nhân sâu xa chính là cuộc chiến tranh phi nghĩa khiến cho vợ chồng nàng phải chia cách.

Câu 4:

* Những câu thơ là lời của người chinh phụ:

Trong đoạn thơ, người chinh phụ hầu như không nói, ngôn ngữ nhân vật chủ yếu là ngôn ngữ nội tâm hoặc là ngôn ngữ nửa trực tiếp (vừa nhân vật vừa tác giả):

Đèn có biết… bi thiết mà thôi.
Lòng này gửi gió đông… đau đáu nào xong.
* Giá trị biểu hiện của những câu thơ đó: giúp cho lời văn trở nên sinh động, góp phần làm nổi bật tâm trạng đau buồn da diết, than vãn hiện thực của người chinh phụ.

Câu 5:

Nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát: dồi dào, lên bổng xuống trầm linh hoạt, vừa chắc khỏe, réo rắt của thể thơ thất ngôn, vừa có sự du dương, mềm mại của thể lục bát.

III, Luyện tập
Các biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích có thể sử dụng để miêu tả nỗi buồn hay niềm vui của bản thân :
Tả ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm.
Tả nội tâm qua ngoại hình.
Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ và từ ngữ mang sắc thái chỉ tâm trạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 5

I. Đôi nét về tác giả
– Đặng Trần Côn hiện chưa rõ năm sinh, năm mất
– Quê quán: làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mọc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội
– Ông sống vào khoảng nửa dầu thế kỉ XVIII
– Sáng tác: Ngoài sáng tác chính là tác phẩm Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán

II. Đôi nét về tác phẩm Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm)
1. Tác phẩm Chinh phụ ngâm
a) Hoàn cảnh ra đời
Đầu đời vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp. Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”
b) Giá trị nội dung và nghệ thuật
– Giá trị nội dung
+ Là tiếng nói oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa
+ Thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi
– Giá trị nghệ thuật
+ Thể thơ: trường đoản cú (nguyên tác), song thất lục bát (bản dịch)
+ Hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng
+ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
+ Bản dịch đã đưa ngôn ngữ dân tộc lên một tầm cao mới, phong phú, uyển chuyển
2. Vị trí đoạn trích
Đoạn trích từ câu 193 đến câu 216 của tác phẩm
3. Bố cục (2 phần)
– Phần 1 (16 câu đầu): Nỗi cô đơn của người chinh phụ
– Phần 2 (còn lại): Nỗi thương nhớ chồng nơi xa
4. Giá trị nội dung
Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
5. Giá trị nghệ thuật
– Miêu tả tâm lí nhân vật (tả cảnh ngụ tình, độc thoại nội tâm…
– Các biện pháp nghệ thuật: điệp ngữ, so sánh, từ láy, câu hỏi tu từ…


III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1

Sống trong cảnh xa cách người chinh phu (người chồng đi trận), người chinh phụ đau khổ vì cô đơn, vì mong muốn tha thiết được sống trong tình yêu lứa đôi, nhưng người chồng cứ mãi xa vắng biền biệt, lúc này người chinh phụ chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn là vật thể vô tri vô giác.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lòi,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Ở đây nhà thơ mượn hình ảnh đèn để nói lên cái không gian mênh mông và cái cô đơn của người chinh phụ. Trong thơ xưa, biện pháp đêm tàn đối bóng này sử dụng khá phổ biến.

Ngoài ngọn đèn còn có tiếng gà eo óc gáy khuya:

Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hòe phất phơ rủ hóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Mượn tiếng gà gáy, nhà thơ nhằm làm gia tăng thêm ấn tượng quạnh hiu vắng vẻ. Bóng cây hòe trong đêm cũng gợi được cảm giác hoang vắng khôn cùng thật đáng sợ.

Câu 2

Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ là những hành động lặp đi lặp lại, những hành động diễn ra trong phòng khuê: “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”.

Người chinh phụ hết rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại trong hiên vắng như để đợi chờ nhưng không nhận được một tin lành nào cả. Chỉ có ngọn đèn là bạn duy nhất.

Người chinh phụ lại gượng đốt hương, lại gượng soi gương:

Hương gượng đốt hồn đà mê mải

Gương gượng soi lệ lại chứa chan.

Mong tìm được sự thanh thản nhờ làn hương gượng nhưng tâm hồn lại như mê man. Gượng soi gương để trang điểm nhưng nhìn thấy qua gương dáng vẻ tiều tụy xộc xệch thì lệ lại ứa ra. Gượng gảy đàn sắt cầm vì không thấy phù hợp, nhất là sợ dây đàn bị chùng hay đứt, vì theo cố nhân đó điềm gở chẳng tốt chút nào.

Trong đoạn trích này, hình ảnh người chinh phụ từng bước thầm lặng ngoài hiên vắng, và đặc biệt là hình ảnh con người ấy một mình ngồi với ngọn đèn trong phòng riêng vắng lặng là những dấu hiệu cực tả nỗi cô đơn trong cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Câu 3

Ngôn ngữ của người chinh phụ trong đoạn trích trên là giọng điệu than thở, than vãn, oán trách.

Đoạn thơ song thất lục bát – thể thơ phù hợp với việc diễn tả nội tâm đau khổ sầu muộn của con người, chính là lời than trực tiếp của nhân vật trữ tình, ở đây là người chinh phụ, càng khiến cho hoàn cảnh bi kịch của người chinh phụ thêm đậm nét và có tính chất khách quan.

Câu 4

Người chinh phụ đau khổ vì cô đơn, phải sống trong cảnh xa cách chồng, người chồng đi trận. Hơn thế nữa, người chinh phụ đau khổ vì mong muốn tha thiết được sống trong hạnh phúc tình yêu lứa đôi nhưng người chồng thì cứ xa vắng biền biệt…

Ý nghĩa chống chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã toát lên một khách quan chính từ bi kịch này.

Câu 5

Thể thơ song thất lục bát có cấu trúc khá đặc biệt là đối xứng ở hai câu thất, tiêu đối ở câu lục và câu bát. Thể thơ này có vần chân (cước vận) lẫn vần lưng (yêu vận), nên đã tạo thành nhạc điệu dồi dào phong phú rất thích hợp với việc diễn tả, việc thể hiện nội tâm buồn bã, đau đớn với những âm điệu sầu thương, oán trách thở than.

Vì vậy bản dịch Chinh phụ ngâm hiện lưu hành dùng thể song thất lục bát là rất phù hợp và đúng điệu.

II. Luyện tập
Để có thể viết được đoạn văn hay đoạn thơ miêu tả một niềm vui hay nỗi buồn của bản thân mình cần đọc tham khảo kĩ các đoạn thơ có sử dụng biện pháp nghệ thuật miêu tả nội tâm trong sách này để hiểu rõ đặc trưng của nghệ thuật. Sau khi nắm được cách thức, cần định hướng nội dung của đoạn văn (ví dụ niềm vui khi được đặt chân vào trường PTTH, nỗi buồn khi một người thân qua đời hay khi phải chia tay một người bạn thân vì bạn chuyển đến ngôi trường mới, …), lập ý và lựa chọn cách trình bày rồi mới tiến hành công việc viết. Sau khi viết xong, cần đối chiếu lại với yêu cầu xem đoạn văn (đoạn thơ).

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 6

A- KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả:

Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn

Là người làng Nhân Mục, huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội
Ông sống vào những năm đầu thế kỉ XVIII
Ông là một người tài hoa và thông minh tuy nhiên lại không thích thi cử cho nên ông đã không đi thi
Tác phẩm tiêu biểu của ông chính là Chinh phụ ngâm khúc
Bản diễn chữ Nôm:

Phan Huy Ích (1750 – 1822): Quê ở Thiên Lộc Nghệ An, năm 26 tuổi ông đỗ tiến sĩ, tác phẩm tiêu biểu như Dụ Am văn tập, dụ am ngâm lục
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748): Quê ở Văn Giang Kinh bắc nay thuộc tỉnh Hưng Yên, bà là người phụ nữ vừa có tài vừa có sắc, tác phẩm tiêu biểu: dịch bản chinh phụ ngâm, truyền kì tấn phả


2. Tác phẩm:

Hoàn cảnh sáng tác: được viết vào những năm 40 của thế kỉ XVIII, dịch giả đã có sự sáng tạo khi dịch bản ngâm khúc chữ hán theo thể ngâm khúc, thể trường đoản cú thành thể thơ song thất lục bát
Vị trí đoạn trích: từ câu 193 đến 216
Nội dung: Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2

Hãy chỉ ra các yếu tố ngoại cảnh thể hiện tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa diễn tả nội tâm của các yêu tố đó

Bài làm:
Các yếu tố ngoại cảnh:
Ngọn đèn: Trong những đêm cô đơn, buồn khổ người thiếu phụ chỉ có ngọn đèn vô tri vô giác chia sẻ bao nỗi ưu tư. Đêm đêm, người thiếu phụ ngồi bên ngọn đèn mong ngóng, nhớ nhung, sầu muộn cho đền khi cái bấc đèn cháy rụi thành than hồng rực như hoa. Thời gian cứ thế trôi qua trong nỗi tuyệt vọng của người thiếu phụ. Nhà thơ tả ngọn đèn leo lét nhưng chính là để tả không gian mênh mang và sự cô đơn trầm lặng của con người và khao khát được đồng cảm sẻ chia nỗi lòng của mình.
Tiếng gà: Tiếng gà là âm thanh duy nhất trong đêm, phá vỡ sự tĩnh mịch của cảnh đêm nhưng nó ngay lập tức bị chìm đi trong cái cô tịch của đêm.
Bóng cây hòe: gợi ra thêm cảm giác hoang vắng và đáng sợ mà thôi. Cảnh vật quạnh hiu bởi lòng người đang sầu đau tê tái vì nỗi nhớ mong và sự khát khao hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng.

Câu 2: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Theo anh chị những dấu hiệu nào cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ? Hãy cho biết vì sao người chinh phụ lại đau khổ
Bài làm:
Dấu hiệu thể hiện sự cô đơn của người chinh phụ là:
Người chinh phụ ngày ngày không lúc nào nguôi ngóng trông chồng (rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại trong hiên vắng để chờ đợi một tin tốt lành nào đó báo người chồng sắp về) nhưng vẫn bặt tin.
Đêm đêm, nàng lại thức cùng ngọn đèn leo lét với màn đêm hoang vắng và cô tịch trong sự đợi mong đến tiều tụy.
Vì quá buồn đau, người chinh phụ cũng chẳng thiết tha gì với bản thân mình (hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy).

Câu 3: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Hãy cho biết vì sao người chinh phụ gian khổ
Bài làm:
Người chinh phụ buồn đau thất vọng, đau khổ vì:
Lo lắng cho sự an nguy của người chồng nơi chiến trận không biết rằng chồng mình có bình an trở về không
Tuổi trẻ qua đi vội vã (hạnh phúc và tình yêu cũng sẽ mất theo – khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi).
Niềm tin vào cuộc sống tương lai mỏng manh và mờ nhạt.

Câu 4*: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Xác định những câu thơ là lời thơ của người chinh phụ cho biết giá trị biểu hiện của nó
Bài làm:
Trong đoạn trích hầu như không có lời nói của nhân vật mà chỉ có lời bộc bạch nội tâm nhân vật. Dù không trực tiếp bộc lộ tâm trạng của mình qua lời nói nhưng thông qua cảnh vật và sự bối rối trong hành động, có thể nhân vật đang buồn đau da diết, oán trách, than vãn cho hiện thực phũ phàng. Tâm trạng của người chinh phụ hiện rõ sự thất vọng và tuyệt vọng.

Câu 5: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Đọc diễn cảm đoạn trích( nếu ngâm được càng tốt). Hãy nhận xét về nhạc điêu của thể thơ song thất lục bát( có so sánh với các thể thơ mà anh ( chị) biết)
Bài làm:
Nhạc điệu thể thơ: dồi dào, vừa có cái chắc khỏe, réo rắt của thể thơ thất ngôn, vừa có được sự du dương, mềm mại của thể thơ lục bát tạo lên sự khác biệt đối với các thể thơ của các bài thơ khác

III- LUYỆN TẬP
Hãy vận dụng các biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích để viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh.
Bài làm:
Tôi còn nhớ mãi ngày hôm đó, ngày tôi nhận được kết quả thông báo tôi đỗ THPT. Cầm kết quả trên tay tôi như không tin nỗi bào mắt mình, thầm nghĩ :” Mình có nằm mơ không, thật không thể tin nổi”. Tôi đỗ vào ngôi trường chuyên với số điểm cao hơn mong đợi. Tôi vỡ òa hạnh phúc. Tôi sung sướng hết đứng lại ngồi. Tôi chạy vội ra sân để ngắm nhìn một chân trời mới đang rộng mở đối với tôi. Không kìm nén được hạnh phúc, tôi chạy tìm mẹ, tôi sung sướng đưa kết quả điểm thi cho mẹ tôi. Mẹ nhìn kết quả của tôi cười và nói với tôi rằng mẹ tôi rất tự hào về tôi. Ngày hôm đó là ngày tôi hạnh phúc, hạnh phúc vui mừng vì chính thành quả cực nhọc bao ngày của tôi nay đã được đền đáp xứng đáng. Đúng là có công mài sắt có ngày nên kim

Đề bài: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Bài làm:
Giá trị nội dung
Tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người chồng đi đánh trận, không có tin tức, không rõ ngày trở về. Nỗi buồn ấy là sự tuyệt vọng, khắc khoải của người phụ nữ, dù biết chắc chồng sẽ khó có thể quay về nhưng trong thâm tâm vẫn hi vọng. Hi vọng càng lớn thì tuyệt vọng càng đau đớn, quằn quại.
Đoạn trích cũng miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Khao khát ấy đã bị chính xã hội phong kiến thối nát, đồi bại vùi dập, chà đạp.
Giá trị nghệ thuật:
Thể thơ song thất lục bát – thể thơ do người Việt sáng tạo, rất giàu nhạc tính phù hợp với việc bộc bạch, thổ lộ cảm xúc của con người đã tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích
Đồng thời, hệ thống những từ láy kết hợp với lối thơ vắt dòng và biện pháp điệp từ, điệp ngữ càng làm cho những câu thơ trở nên nặng trĩu tâm trạng, mở ra một một nỗi buồn thương bao trùm lên cảnh vật.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button