Truyện

Top 6 Bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” lớp 9 hay nhất (update)

“Thúy Kiều báo ân báo oán” là đoạn trích miêu tả cảnh Thúy Kiều đền ơn đáp nghĩa những người đã cưu mang giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn, đồng thời trừng trị những kẻ bất nhân, tàn ác. Qua ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du, chúng ta thấy được tấm lòng nhân nghĩa vị tha của Kiều và ước mơ công lý chính nghĩa của nhân dân: con người bị áp bức đau khổ vùng lên, cầm cán cân công lý. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” hay nhất mà KTHN tổng hợp trong bài viết dưới đây để hiểu đoạn trích và chuẩn bị tốt nội dung tiết học.

Hi vọng bài viết trên giúp các bạn chuẩn bị tốt kiến thức về tác phẩm trước khi đến lớp. Chúc các bạn học tốt và tiếp tục theo dõi các bài soạn văn cũng như phân tích, phát biểu cảm nghĩ trên KTHN.vn.
Là top 3 tiêu chí mà KTHN.vn luôn luôn hướng tới để đem lại những thông tin hữu ích nhất cho cộng đồng

Bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” số 1

Bố cục:

– Phần 1 (mười hai câu thơ đầu): cảnh Thúy Kiều báo ân cho Thúc Sinh.

– Phần 2 (hai mươi hai câu thơ còn lại): Thúy Kiều báo oán Hoạn Thư.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 108 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Lời nói của Kiều với Thúc Sinh, ta thấy Kiều là người trọng nghĩa, rõ ràng trong mọi chuyện

+ Nàng cảm tạ ân đức Thúc Sinh khi chuộc nàng ra khỏi lầu xanh: gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân

+ Trong khi báo ân Thúc Sinh, Kiều nhắc đến Hoạn Thư chính vì bao nhiêu khổ của nàng đều do Hoạn Thư gây ra

+ Nàng nhận định Hoạn Thư là kẻ quỷ quái tinh ma, sẽ bị trừng phạt (phen này kẻ cắp bà già gặp nhau)

– Từ ngữ dùng với Thúc Sinh là từ Hán Việt trang trọng: nghĩa, chữ tòng, cố nhân, tạ

+ Khi nói về Hoạn Thư lời lẽ nôm na, dùng thành ngữ dân gian: quỷ quái tinh ma, kẻ cắp bà già, kiến bò miệng chén

→ Hành động trừng phạt theo quan điểm nhân dân được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân

Câu 2 (trang 108 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Giọng điệu của Thúy Kiều trong đoạn thơ báo oán thể hiện sự mỉa mai.

+ Hoạn Thư bị đưa đến như một phạm nhân, Kiều vẫn chào hỏi, lại dùng từ xưng hô cũ “tiểu thư” khi vị thế hai người hoàn toàn thay đổi.

+ Sau sự mỉa mai, Kiều chỉ đích danh con người Hoạn Thư ác độc, nham hiểm xưa nay hiếm trong giới đàn bà (Đàn bà dễ có mấy tay- Đời xưa mấy mặt đời này mất gan)

– Liên tiếp các từ ngữ dùng theo nghệ thuật hoán dụ (tay, mặt, gan), khẳng định Hoạn Thư là người ghê gớm

+ Kiều nêu ra quy luật ác giả ác báo

→ Kiều thẳng tay trừng trị Hoạn Thư, dứt khoát, rõ ràng

Câu 3 (trang 108 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Thái độ của Kiều, Hoạn Thư vô cùng hoảng hốt và sợ hãi

+ Sợ đến mức “hồn lạc phách siêu”

+ Bằng sự khôn ngoan, nàng lấy lại được bình tĩnh để gỡ tội

– Trình tự lý lẽ:

+ Đầu tiên tự nhận và nói về thân phận đàn bà, Hoạn Thư với Thúy Kiều cùng giới, cùng chịu thiệt thòi

+ Hoạn Thư cho rằng chuyện ghen tuông là chuyện thường tình, không thể tránh khỏi

+ Hoạn Thư kể tới việc đã nương tay cho Thúy Kiều: cho ra gác viết kinh, khi Kiều bỏ trốn đã không bắt

+ Hoạn Thư tỏ vẻ mụ “hồn lạc phách xiêu” và mong sự khoan hồng của Kiều

– Bằng lời lẽ không ngoan, lọc lõi tác động tới Thúy Kiều, khiến nàng từ việc muốn trừng phạt báo thù, Kiều đã tha cho Hoạn Thư

Câu 4 (trang 108 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Thúy Kiều tha cho Hoạn Thư vì:

– Lời lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư khi trình bày lí do xin tha tội

+ Ghen tuông là chuyện thường, trong tình huống chung chồng không thể đối xử khác

– Hoạn Thư thùa nhận tội lỗi của mình

– Hoạn Thư xin mở lượng khoan hồng: “còn nhờ lượng bể thường bài nào chăng”, Kiều không tha cho Hoạn Thư sẽ mang tiếng nhỏ nhen, cố chấp

– Đây là dụng ý của tác giả Nguyễn Du, không để Kiều trừng phạt dã man như trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà độ lượng, khoan hồng.

Câu 5 (trang 109 sgk ngữ văn 9 tập 1)

Thúy Kiều là người trọng ân nghĩa: báo ân người giúp đỡ, kẻ có oán phải chịu tội thích đáng

+ Dù Thúc Sinh không bảo vệ được Kiều nhưng vẫn nhớ và đền ơn

+ Với Hoạn Thư, Kiều kiên quyết trừng phạt, nhưng trước thái độ khôn ngoan, xin tha bổng, Kiều đã tha cho Hoạn Thư

– Kiều rộng lượng, không cố chấp, chính sự rộng lượng ấy khiến kẻ như Hoạn Thư phải tâm phục, khẩu phục

– Hoạn Thư người nham hiểm, độc ác nhưng khôn ngoan, lọc lõi

+ Bản chất Hoạn Thư ác độc, ranh mãnh: từng hành hạ Kiều tới đau đớn, ê chề

+ Người “bên ngoài thơn thớt nói cười/ Mà trong nham hiểm giết người không dao”

Nay vẫn quỷ quyệt, xảo trá, lọc lõi khiến Kiều xuôi lòng tha bổng

Luyện tập

– Nhân vật Thúy Kiều:

+ Yêu ghét rành mạch, rõ ràng, lúc ôn hòa, khi cương quyết, cứng rắn: nàng trả ơn đề nghĩa cho Thúc Sinh, ngược lại trừng phạt Hoạn Thư, kẻ từng ác độc với nàng

+ Hành động có tính đạo lý: người hiểu đạo lý, tha cho Hoạn Thư vì lí lẽ Hoạn Thư

– Nhân vật Hoạn Thư

+ Hoạn Thư trước sau đều là người khôn ngoan, lắm mưu, nhiều kế

+ Dù run sợ trước lời buộc tội của Kiều, Hoạn Thư vẫn tìm cách biện luận để thoát tội cho bản thân

+ Về tình cảm riêng, dù thừa nhận tài năng của Kiều nhưng thói ghen tuông trong kiếp lấy chồng chung là thường tình

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” số 2

Trả lời câu 1 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

a. Qua lời Kiều nói với Thúc Sinh, em thấy Kiều là người thế nào?

b. Tại sao khi trả ơn Thúc Sinh, Kiều lại nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư? Có sự khác nhau như thế nào trong ngôn ngữ của Kiều nói với Thúc Sinh và khi nói về Hoạn Thư.

Lời giải chi tiết:

a.

– Chàng Thúc Sinh khi được “gươm mời đến” thì “Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run”. Thúc Sinh run vì nhiều lẽ: trước cảnh ba quân gươm giáo sáng loà, run ; được chứng kiến Thuý Kiều đã trừng trị những kẻ đã gây bao đau khổ cho đời nàng như thế nào lại càng dễ run hơn nữa. Thúc Sinh không thể nghĩ rằng mình lại được trả ân bằng “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” bởi trong thực tế, chàng ta chẳng có công lao gì nhiều với Thuý Kiều. Ngay cả khi chứng kiến vợ mình hành hạ Thuý Kiều, Thúc Sinh cũng chỉ biết ngậm đắng nuốt cay, không biết bênh vực thế nào.

Vậy tại sao Thúc Sinh lại được Thuý Kiều “báo ân” hậu hĩnh như thế? Lí giải được điều này, chúng ta sẽ hiểu thêm về Thuý Kiều, từ đó càng hiểu thêm nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du. Nhân vật Thuý Kiều đã được xây dựng rất nhất quán từ đầu đến cuối tác phẩm. Dù khi phải dằn lòng trao duyên cho Thuý Vân, khi một mình đối cảnh ở lầu Ngưng Bích hay khi có đủ vị thế để báo ân báo oán sòng phẳng thì Thuý Kiều vẫn luôn là người nặng tình nặng nghĩa:

Nàng rằng: “Nghĩa nặng tình non

Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân.

Tạ lòng, dễ xứng báo ân gọi là…”.

Lí lẽ của Thuý Kiều rất rõ ràng: đây không phải là sự báo ân mà là sự trả nghĩa, đúng hơn là trả cái tình mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trước đây. Như vậy, đối với Thúc Sinh, Thuý Kiều đã không xử bằng lí mà bằng cái tình của nàng. Điều này có vẻ như không hợp với cách nghĩ thông thường, không thoả mãn được một số bạn đọc khó tính nhưng chính ở đây lại làm bật lên giá trị nghệ thuật của tác phẩm: Nguyễn Du đã không xây dựng nhân vật Thuý Kiều theo một công thức định sẵn. Ngược lại, ông đã tạo nên một nhân vật rất sinh động, rất đời thường. Kiều đã suy nghĩ, nói năng và hành động hoàn toàn hợp với phẩm chất và tính cách của nàng. Điều này càng được chứng minh rõ ràng hơn qua cảnh tiếp theo.

b.

– Khi nói với Thúc Sinh nàng sử dụng nhiều từ Hán Việt: nghĩa, tòng, phụ, cố nhân,… kết hợp với điển cố Sâm Thương. Cách nói trang trọng phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc, đồng thời thể hiện được tấm lòng biết ơn trân trọng của Thúy Kiều.

– Khi nói về Hoạn Thư ngôn ngữ Kiều xuất hiện nhiều từ Thuần Việt: quỷ quái tinh ma, kẻ cắp bà già,… cách nói nôm na, binh dị phù hợp với đối tượng và mục đích giao tiếp.


Trả lời câu 2 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

– Những lời đầu tiên Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu thế nào?

– Thái độ của Kiều qua giọng điệu ấy?

Lời giải chi tiết:

– Vị thế giữa hai người phụ nữ đã hoàn toàn đảo ngược. Trước đây, khi Hoạn Thư làm chủ tình thế, Thuý Kiều không những bị đánh đập mà còn bị làm nhục theo một cách thức rất riêng của Hoạn Thư. Nỗi đau tinh thần của Kiều lúc ấy còn lớn gấp hàng chục lần nỗi đau thể xác. Thế nhưng giờ đây, người làm chủ tình thế lại là Thuý Kiều. Chỉ cần nàng phẩy tay một cái, hẳn Hoạn Thư sẽ “thịt nát xương tan”.

Thuý Kiều đã khởi sự “báo oán” như thế nào?

Thoắt trông nàng đã chào thưa:

“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!

Đàn bà dễ có mấy tay

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.

– Ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du thật đáng nể phục. Nàng Kiều duyên dáng, thuỳ mị, “e lệ nép vào dưới hoa” ngày nào, giờ đối diện với kẻ thù, dường như đã hoá ra một con người khác. Nếu như Kiều ra lệnh trừng phạt Hoạn Thư ngay thì không có gì nhiều để bàn luận. Nhưng Kiều đang sung sướng hưởng thụ cảm giác của kẻ bề trên, đang tìm cách dùng lời nói để “rứt da rứt thịt” Hoạn Thư theo đúng cách mà trước đây mụ ta đã đối xử với nàng. Bằng giọng điệu đầy vẻ châm biếm, Kiều gọi Hoạn Thư là “tiểu thư”, cẩn thận báo cho mụ ta biết về “luật nhân quả” ở đời (“Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”). Kiều tin chắc vào chiến thắng đến mức sẵn sàng chấp nhận đấu khẩu!

– Khi nghe xong những lời “bào chữa” của Hoạn Thư, Thuý Kiều đã xuôi lòng mà tha bổng cho mụ, không những thế lại còn khen: “Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời” và tự nói với mình rằng: “Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen”.

Kết cục đó có thể bất ngờ với người đọc nhưng lại rất hợp lí với lô gích của tác phẩm. Đoạn “báo ân” với Thúc Sinh đã cho thấy: dù thế nào đi nữa, nàng vẫn là người phụ nữ đa sầu đa cảm, nặng tình nặng nghĩa. Một người phụ nữ như thế, thật khó có thể đối đầu được với một kẻ gian ngoan, quỷ quyệt như Hoạn Thư.


Trả lời câu 3 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Trước thái độ của Kiều, Hoạn Thư đã xử trí ra sao?

Lời giải chi tiết:

– Thế nhưng Hoạn Thư thật xứng với danh tiếng “Bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao”:

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu

Khấu đầu dưới chiếu, liệu điều kêu ca.

Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình…”.

– Giữa dáng điệu bề ngoài với lời nói bên trong của Hoạn Thư có cái gì đó rất mâu thuẫn. Nếu quả thật đã “hồn lạc phách xiêu”, Hoạn Thư khó có thể biện hộ cho mình một cách khéo léo như vậy. Không những khẳng định “ghen tuông chỉ là thói thường của đàn bà”, Hoạn Thư còn kể đến những việc mà tưởng như mụ đã “làm ơn” cho Thuý Kiều: cho ra nhà gác để viết kinh, khi Thuý Kiều trốn đã không đuổi bắt. Đó là những lí lẽ rất khôn ngoan mà Kiều khó lòng bác bỏ được. Thì ra, vẻ “hồn lạc phách xiêu” chỉ là bộ điệu mà mụ ta tạo ra để đánh vào chỗ yếu của Thuý Kiều. Đứng trước cơ hội duy nhất để có thể thoát tội, mụ đã vận dụng tất cả sự khôn ngoan, lọc lõi của mình.

– Qua đó thấy được Hoạn Thư là người “sâu sắc nước đời”, không những làm “chàng Thúc phải ra người bó tay” mà chính Kiều cũng ở vào hoàn cảnh khó xử: “Tha ra thì cùng may đời- Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”. Tuy nhiên, Kiều đã vượt qua hoàn cảnh khó xử bằng tấm lòng nhân hậu, tha cho Hoạn Thư.


Trả lời câu 4 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Vì sao Thúy Kiều tha bổng cho Hoạn Thư? Những lời cuối cùng Kiều nói cho thấy nàng là người thế nào?

Lời giải chi tiết:

– Bị những lời bào chữa của Hoạn Thư làm cho thuyết phục.

– Nhưng quan trọng hơn cả là nàng có tấm lòng vị tha bao dung nên đã tha cho Hoạn Thư.


Trả lời câu 5 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Phân tích tính cách Kiều và Hoạn Thư

Lời giải chi tiết:

Qua đoạn trích có thể thấy:

– Thúy Kiều là người trọng ân nghĩa. Những ai đã giúp đỡ nàng đều được nhớ tới và đến ơn xứng đáng. Còn với Hoạn Thư, nàng kiên quyết trừng phạt. Nhưng trước thái độ khôn ngoan kêu ca “đến mực, phải lời”, Kiều đã tha bổng. Nàng tha Hoạn Thư cho thấy Kiều là người không hẹp hòi, không nhỏ nhen, không cố chấp. Sự rộng lượng của nàng càng làm cho người ta, kể cả Hoạn Thư – kẻ thù, phải tâm phục, khẩu phục.

– Hoạn Thư là một người phụ nữ nham hiểm và hết mực khôn ngoan.

Luyện tập

Phân tích những biểu hiện đa dạng nhưng hợp lí, nhất quán trong tính cách của Thúy Kiều và Hoạn Thư.

Lời giải chi tiết:

1. Thúy Kiều

Mọi biểu hiện đa dạng phức tạp trong tính cách Thúy Kiều đều làm nổi bật vẻ đẹp từ tấm lòng vị tha, nhân hậu của nàng.

– Với tấm lòng nhân hậu nàng đã thả Thúc Sinh, ban thưởng hậu hĩnh.

– Không những vậy nàng còn tha bổng cho Hoạn Thư, kẻ đã gây cho Kiều biết bao khổ đau.

2. Hoạn Thư

Mọi biểu hiện đa dạng phức tạp trong tính cách cho thấy nàng ta là người khôn ngoan, giảo hoạt. Điều này được thể hiện rõ qua lời lẽ tự bào chữa cho mình.

Bố cục

Bố cục đoạn trích: 2 phần

– Mười hai câu đầu: Thúy Kiều báo ân.

– Hai mươi hai câu còn lại: Thúy Kiều báo oán.

ND chính

Đoạn trích miêu tả cảnh báo ân báo oán đối với hai nhân vật là Thúc Sinh và Hoạn Thư, qua đó làm nổi bật tấm lòng nhân nghĩa, cao thượng của Thúy Kiều đồng thời thể hiện ước mơ công lí, chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân: con người bị áp bức sẽ đứng lên cầm cán cân công lí.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” số 3

Câu 1 – Trang 108 SGK: Mười hai câu đầu trả cảnh Thúy Kiều báo ân (trả ơn).

a. Qua lời Kiều nói với Thúc Sinh, em thấy Kiều là người thế nào?

b. Tại sao khi trả ơn Thúc Sinh, Kiều lại nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư? Có sự khác nhau như thế nào trong ngôn ngữ của Kiều nói với Thúc Sinh và khi nói về Hoạn Thư? Vì sao có sự khác nhau ấy?

Trả lời

– Thúc Sinh được mời tới theo quân lệnh: Cho gươm mời. Trên trướng của đại vương Từ Hải, Thúy Kiều ngồi oai nghiêm xử án. Trước những gươm lớn giáo dài, Thúc Sinh sợ đến mất cả thần sắc (mặt như chàm đổ), chân mình run rẩy (mình dường dẽ run). Hình ảnh đáng tội nghiệp này thật phù hợp với tính cách nhu nhược của Thúc Sinh.

– Lời lẽ của Thủy Kiều đối với Thúc Sinh cho thấy lòng biết ơn trân trọng của nàng.

+ Kiều được Thúc Sinh chuộc ra khỏi thanh lâu ở Lâm Tri, thoát cảnh đời ô nhục, rồi được sống những ngày êm ấm với chàng Thúc. Đó là nghĩa nặng nghìn non, là tấm lòng biết ơn sâu sắc của nàng đối với người cũ thân thiết, ân tình.

+ Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng những từ Hán Việt: nghĩa, tòng, cố nhân, tạ,… điển cố: Sâm Thương. Cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều.

– Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nói về Hoạn Thư, Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa. Lúc nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức nôm na, bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “kẻ cắp bà già gặp nhau”, “kiến bò miệng chén” với những từ Việt dễ hiểu. Hành động trừng phạt cái ác theo quan điểm của nhân dân được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

Câu 2 – Trang 108 SGK: Những câu thơ còn lại tả cảnh Thúy Kiều báo oán.

– Những lời đầu tiên Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu thế nào?

– Thái độ của Kiều qua giọng điệu ấy?

Trả lời

– Hành động, lời nói của Kiều đều biểu thị thái độ mỉa mai đối với Hoạn Thư. Vẫn một điều “chào thưa”, hai điều “tiểu thư”. Cách xưng hô này trong hoàn cảnh giữa Kiều và Hoạn Thư đã có sự thay đổi ngôi là một đòn mỉa mai quất mạnh vào danh gia họ Hoạn.

– Trong lời nói của Kiều có cả giọng đay nghiến khi câu thơ dằn ra từng tiếng, khi từ ngữ được lặp lại, nhấn mạnh: dễ có, dễ dàng, mấy tay, mấy mặt, mấy gan đời xưa, đời này, càng cay nghiệt, càng oan trái… Cách nói này hoàn toàn phù hợp với đối tượng là Hoạn Thư, phù hợp với con người “Bề ngoài thon thót nói cười – Bề trong nham hiểm giết người không dao”.

Giọng điệu mỉa mai, đay nghiến của Kiều cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thư theo đúng quan niệm: “Mưu sâu cũng trải nghĩa sâu cho vừa”.

Trước lời nói, thái độ của Kiều, phút giây đầu, Hoạn Thư có “hồn lạc, phách xiêu”. Nhưng ngay trong hoàn cảnh ấy, Hoạn Thư vẫn kịp “liệu điều kêu ca”. Đây quả là một con người khôn ngoan, giảo hoạt.

Câu 3 – Trang 108 SGK

Trước thái độ của Kiều, Hoạn Thư đã xử trí ra sao? Lời kêu ca của Hoạn Thư thực chất là lí lẽ để gỡ tội. Em hãy tìm hiểu :

– Trình tự lí lẽ của Hoạn Thư.

– Các lí lẽ của Hoạn Thư đã tác động tới Kiều như thế nào?

– Qua lời đối đáp của Hoạn Thư, em có cảm nhận gì về tính cách của nhân vật này ?

Trả lời

– Khi Kiều gặp lại Hoạn Thư, bao nhiêu hờn oán ngày xưa trở về trong hồi ức, nàng đã thốt lên với giọng mỉa mai xa gần. Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư thế của người chiến thắng” ra tay báo oán, Kiều đã “chào thưa” bằng những lời “mát mẻ”:

– “Thoắt trông nàng đã chào thua

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!”

– “Đàn bà dễ có mấy tay

Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan

Dễ dàng là thói hồng nhan

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”

Giọng nói trở nên chì chiết, đay nghiến. Các chữ “mấy tay”, “mấy gan” như những mũi kim bén nhọn:

Trước lời nói ấy, Hoạn Thư “hồn lạc phách siêu” nhưng vẫn đầy đủ bản lĩnh, bình tĩnh để: “Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca”, để gỡ tội của Hoạn Thư.

Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Là “thủ phạm” đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã “gươm tuốt vắp ra”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”. Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt: Vốn khôn ngoan, sắc sảo, đứa con của họ “họ Hoan danh gia” đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái “khấn đầu” giữ lễ, khi chân tay đang bị trói.

Trước hết nhận tội “ghen tuông và lí giải đó là chuyện thường tình” của đàn bà. Tiếp theo Hoạn Thư gợi lại chút “ân tình” ngày xưa: một là đã cho Kiều xuống Quan Âm các “giữ chùa chép kinh”, không bắt làm thị tì nữa, hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ dùng những từ kín đáo để người trong cuộc mới hiểu. “Nghĩ cho” là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho

“Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.”

Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương”. Tuy “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”, nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư “kính yêu” Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:

“Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.

Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế, Kiều phải “khen cho”: “Khôn ngoan đến mục nói năng phải lời”. Không thể là “người nhỏ nhen”, Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:

“Đã lòng trị quá thì nên:

Truyền quân lệnh xuống trường tiền tha ngay.”

Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người. Tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều càng tỏ ra vô cùng cao thượng.

– Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm lý thường tình của người phụ nữ để gỡ tội: “Rằng tôi chút phận đàn bà – Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”. Lí lẽ này đã xoá đi sự đối lập giữa Kiều và Hoạn Thư, đưa Kiều từ vị thế đối lập trở thành người đồng cảnh, cùng chung “chút phận đàn bà”. Nếu Hoạn Thư có tội thì cũng là do tâm lí chung của giới nữ: “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Từ tội nhân, Hoạn Thư đã biện bạch để mình trở thành nạn nhân của chế độ đa thê.

+ Tiếp đến Hoạn Thư kể lại “công” đã cho Kiều ra viết kinh ở các Quan Âm và không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn.

+ Cuối cùng Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình, chỉ còn biết trông cậy vào tấm lòng khoan dung, độ lượng lớn rộng như biển trời của Kiều: “Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.

– Trước những lời kêu ca của Hoạn Thư, Kiều đã phải thừa nhận đây là một con người “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”, Hoạn Thư đưa Kiều đến chỗ khó xử: “Tha ra thì cũng may đời – Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”. Nàng có răn đe Hoạn Thư nhưng rồi lại khoan dung độ lượng: “Đã lòng tri quá thì nên”. Hoan Thư đã biết lỗi, đã xin tha thì Kiều cũng cư xử theo quan điểm triết lí dân gian “Đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại”.

– Qua cách lí lẽ để gỡ tội, có thể thấy Hoạn Thư “sâu sắc nước đời” đến “quỷ quái tinh ma”. Tuy nhiên việc Hoạn Thư được tha bỗng chủ yếu là do tấm lòng độ lượng của Kiều. Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán một lần nữa đã làm ngời lên tấm lòng vị tha nhân hậu của người con gái họ Vương.

– Từ thân phận con người bị áp bức, đau khổ, Thúy Kiều đã trở thành vị quan toà cầm cán cân công lí. Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán là sự phản ánh khát vọng ước mơ công lý chính nghĩa của thời đại Nguyễn Du.


Câu 4 – Trang 108 SGK

Vì sao Thuý Kiều tha bổng Hoạn Thư? Việc làm ấy của Kiều hợp lí hay không hợp lí, là đúng hay đáng trách? Lí giải cách lựa chọn của em.

Những lời cuối cùng Kiều nói với Hoạn Thư cho thấy Kiều là người như thế nào?

Trả lời

Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư vì những mấy lí do:

– Vì lời lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư khi trình bày lí do để cãi tội. Chính Thúy Kiều cũng phải khen và thừa nhận Hoạn Thư là người: “Khôn ngoan đến mục nói năng phải lời”.

– Vì Hoạn Thư cũng thừa nhận tội lỗi của mình và xin mở lòng khoan hồng: “Trót lòng gây chuyện chông gai. Còn nhờ lượng bề thương bài nào chăng”.

– Thúy Kiều tha bổng cho Hoạn Thư là hợp lí vì:

+ Nếu Kiều vẫn không tha cho Hoạn Thư thì nàng sẽ mang tiếng là người nhỏ nhen, là người cố chấp khi kẻ tình địch đã biết nhận lỗi, đã cất lời xin: “Tha ra thì cũng may đời. Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”. Hơn nữa Kiều lại là người rộng lượng, biết ân oán ở đời, chính vì vậy nàng tha bổng Hoạn Thư.

+ Những lời cuối cùng Kiều nói với Hoạn Thư cho thấy Kiều là con người đã đánh giá đúng bản chất của Hoạn Thư (người khôn ngoan, giảo hoạt). Kiều đã vượt qua tình huống khó xử giữa tha cho Hoạn Thư và trừng trị mụ bằng chính tấm lòng khoan dung, nhân hậu của nàng. Kiều đã xử theo quan niệm dân gian: “Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại.

Câu 5* – Trang 108 SGK

Qua đoạn trích, phân tích tính cách Thuý Kiều và Hoạn Thư.

Trả lời

– Thúy Kiều là người trọng ân nghĩa. Đối với “người cũ” Thúc Sinh tuy “nhu nhược, thấp cơ, thua trí đàn bà”, không bảo vệ được nàng nhưng đã có công cứu nàng khỏi lầu xanh nên nàng đã đền ơn xứng đáng “Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân”. Khi xử Hoạn Thư, lúc đầu nàng kiên quyết trừng phạt, nhưng trước sự hối lỗi và thái độ thành khẩn của Hoạn thư, Kiều đã tha bổng. Lí do cơ bản khiến Kiều tha cho Hoạn Thư chính vì nàng vốn đã có tấm lòng rộng lượng, khoan dung, nhưng lí do ẩn bên trong cũng là tác giả muốn thể hiện tính cách ghê gớm “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời” của Hoạn Thư.

– Tính cách của Hoạn Thư cũng có những biểu hiện phong phú, đa dạng nhưng là một người “quỷ quái tinh ma” như nhận xét của Thúy Kiều. Khi Kiều kiên quyết trừng phạt những tội lỗi, Hoạn Thư đã hoảng sợ nhưng khéo léo van xin. Lí lẽ chặt chẽ, lập luận hợp lí, không chối tội, sẵn sàng nhận trừng phạt nhưng xin Thúy Kiều mở lượng khoan hồng.

Luyện tập

Phân tích những biểu hiện đa dạng nhưng hợp lí, nhất quán trong tính cách Thúy Kiều và Hoạn Thư.

Gợi ý

– Thúy Kiều khi báo ân, báo oán, lúc đầu nàng quyết trừng trị Hoạn Thư nhưng trước lí lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư, với tấm lòng rộng lượng, nàng tha bổng cho mụ. Thái độ của Kiều đối với Hoạn Thư biểu hiện đa dạng như vậy nhưng lại rất thống nhất trong tính cách của nàng. Đó là tính cách của một người phụ nữ rộng lượng, nhân hậu, khoan dung, quên mình vì người khác.

– Tính cách của Hoạn Thư cũng có những biểu hiện phong phú nhưng bản chất vẫn là một con người ranh ma, giảo hoạt. Khi hành hạ Thúy Kiều đến ê chề, nhục nhã nhưng Hoạn Thư vẫn: “Bề ngoài thon thót nói cười/ Mà trong nham hiểm: giết người không dao”. Khi rất có thể bị Thúy Kiều trừng trị “hồn lạc phách xiêu” nhưng vẫn đủ tỉnh táo, “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời” khiến Kiều động lòng mà tha bổng.

Tổng kết

Qua ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Du đã làm nổi bật tính cách nhân vật Thúy Kiều và nhân vật Hoạn Thư. Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán là một thể loại ước mơ công lý chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân, con người bị áp bức đau khổ vùng lên cầm cán cân công lí; “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” và tấm lòng nhân nghĩa, cao thượng của Thúy Kiều.

Nếu mang bản viết của Thanh Tâm Tài Nhân với những chi tiết thô thiển đem đối chiếu với “Truyện Kiều”, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút Nguyễn Du, nhất là cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm! Lời thoại gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lí, tính cách một Thúc Sinh hiền lành đến độ nhút nhát, Hoạn Thư thì khôn ngoan đến độ ranh ma, Kiều cao thượng, bao dung và nhân hậu.

Nguyễn Du ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tính ma. Cảnh báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều. Đoạn Kiều báo ân báo oán sáng lên chói lọi như một giấc mơ công lí, một giấc mơ của muôn người bất hạnh trong chế độ phong kiến thối nát xa xưa.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” số 4

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Đoạn trích này nằm ở phần thứ hai của Truyện Kiều (từ câu 2325 đến câu 2336 ; từ câu 2357 đến câu 2378). Sau khi Kiều gặp Từ Hải, Từ Hải đã chuộc nàng ra khỏi lầu xanh. Từ Hải lập ra một triều đình riêng, giúp Kiều báo ân và báo oán.

2. Đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán đã làm nổi bật tính cách của nhân vật Thuý Kiều và Hoạn Thư. Đồng thời thể hiện ước mơ công lí theo quan điểm của quần chúng nhân dân : con người đau khổ vùng lên cầm cán cân công lí, những người tốt được đền ơn, những kẻ ác bị trừng phạt.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1. Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh, ta thấy Kiều là người trọng nghĩa. Nàng trân trọng việc Thúc Sinh đã chuộc mình ra khỏi lầu xanh. Việc hai người không vẹn tình vợ chồng là do Hoạn Thư ghen tuông. Bởi thế mà nàng vẫn thấy cần báo ân cho Thúc Sinh với lễ vật rất hậu : gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân. Trong khi báo ân Thúc Sinh, Kiều nhắc đến Hoạn Thư chính vì Hoạn Thư đã gây ra bao nhiêu oan khổ cho nàng. Nàng cũng báo trước cho Thúc Sinh rằng Hoạn Thư là kẻ quỷ quái tình ma, thị sẽ bị trừng phạt.

Những từ ngữ Kiều dùng với Thúc Sinh là những từ Hán Việt trang trọng : nghĩa, chữ tòng, cố nhân, tạ,… Trong khi đó, khi nói về Hoạn Thư thì lời lẽ nôm na, dùng thành ngữ dân gian : quỷ quái tinh ma, kẻ cắp bà già, kiến bò miệng chén. Đây là hai thái độ, một đằng là với người được báo ân thì trịnh trọng, phù hợp với tính cách của một nho sinh ưa chữ nghĩa. Còn với Hoạn Thư thì lời lẽ nôm na, theo kiểu dân gian. Hành động trừng phạt theo quan điểm nhân dân được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.


Câu 2. Giọng điệu của Kiều trong đoạn thơ báo oán thể hiện sự mỉa mai. Hoạn Thư bị đưa đến như là một phạm nhân, thế nhưng Kiều vẫn chào hỏi, lại dùng từ xưng hô cũ “tiểu thư” trong khi ngôi vị của hai người đã hoàn toàn thay đổi. Sau sự mỉa mai, Kiều đã chỉ đích danh con người Hoạn Thư là con người ghê gớm xưa nay hiếm trong cả giới phụ nữ (Đàn bà dễ có mấy tay – Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan). Liên tiếp các từ ngữ dùng theo nghệ thuật hoán dụ (tay, mặt, gan) Kiều đã khẳng định Hoạn Thư là con người ghê gớm hiếm có từ xưa đến nay. Càng cay nghiệt, càng gây nhiều oan trái thì tất nhiên sẽ càng phải hứng chịu những trừng phạt sòng phẳng từ phía người bị hại. Thái độ của Kiều là dứt khoát, rõ ràng. Nàng sẽ thẳng tay trừng trị Hoạn Thư.


Câu 3. Trước thái độ của Kiều, Hoạn Thư đã vô cùng hoảng hốt và sợ hãi. Sợ đến mức “hồn lạc, phách xiêu”. Nhưng sau phút choáng váng, Hoạn Thư đã lấy lại được bình tĩnh, thể hiện sự khôn ngoan. Đầu tiên là nói về phận đàn bà. Nêu lên phận đàn bà, Hoạn Thư – tội nhân đưa Thuý Kiều – quan tòa về vị trí là người cùng giới, cùng chịu những thiệt thòi. Tiếp theo, Hoạn Thư nêu chuyện ghen tuông là chuyện không thể tránh khỏi. Như vậy tội của Hoạn Thư là tội của cả giới phụ nữ. Nếu kết tội ghen thì phải kết tội cả giới phụ nữ. Sau đó Hoạn Thư mới kể đến ơn của mình với Kiều : chấp nhận cho ra gác Quan Âm để viết kinh, khi Kiều trốn đi thì không đuổi theo nữa. Hoạn Thư còn khéo lấy lòng rằng thị vẫn kính yêu, nhưng vì chung chồng nên khó mà chiều. Cuối cùng, Hoạn Thư đã thừa nhận là mình có tội “gây chuyện chông gai”, và xin mở lượng khoan hồng.

Lí lẽ của Hoạn Thư chặt chẽ, khôn ngoan, đã tác động mạnh đến Thúy Kiều. Từ chỗ quyết tâm trừng phạt, báo thù, Kiều đã tha bổng cho Hoạn Thư.

Qua lí lẽ của Hoạn Thư, ta càng thây Hoạn Thư là người khôn ngoan, đúng như lời luận tội, nhưng cũng có thể hiểu là lời đánh giá chính xác của Thuý Kiều : Đàn bà dễ có mấy tay – Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan.

Câu 4. Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư vì mấy lí do. Thứ nhất là lời lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư khi trình bày lí do để cãi tội. Ghen là chuyện thường tình, có công với Kiều, vẫn kính yêu Kiều, nhưng không thể đốì xử khác trong tình huống chồng chung. Thứ hai là Hoạn Thư đã thừa nhận tội lỗi của mình. Thứ ba là thị đã xin mở lượng khoan hồng : Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng. Trong tình huống đó, nếu Kiều vẫn không tha cho Hoạn Thư thì nàng sẽ mang tiếng là người nhỏ nhen, là người cố chấp khi kẻ tình địch đã biết nhận lỗi, đã cất lời xin. Kiều là con người rộng lượng, chính vì vậy nàng tha bổng Hoạn Thư. Cũng cần nói thêm rằng đây chính là tấm lòng nhân đạo và trí tuệ sáng suốt của Nguyễn Du. Ông đã không để Kiều trừng phạt Hoạn Thư như trong sách của Thanh Tâm Tài Nhân. Và vì thế nàng Kiều của Nguyễn Du nhân hậu và độ lượng hơn.

Câu 5. Thuý Kiều là người trọng ân nghĩa. Những ai đã giúp đỡ nàng đều được nhớ tới và đền ơn xứng đáng. Thúc Sinh là một ví dụ. Mặc dù chàng Thúc nhu nhược, thấp cơ thua trí đàn bà, đã không bảo vệ được nàng, nhưng nàng vẫn nhớ ơn và đền ơn. Đối với Hoạn Thư, nàng kiên quyết trừng phạt. Nhưng trước thái độ khôn ngoan kêu ca rất “đến mực, phải lời”, Kiều đã tha bổng. Nàng tha Hoạn Thư cho thấy Kiều là người không hẹp hòi, không nhỏ nhen, không cố châp. Sự rộng lượng của nàng càng làm cho người ta, kể cả Hoạn Thư – kẻ thù, phải tâm phục, khẩu phục.

Trước “tình thế đảo ngược”, Hoạn Thư – người từng hành hạ Thuý Kiều đến ê chề, nhục nhã, người từng “bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao”, nay vẫn thừa lọc lõi, “khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời”, bản chất quỷ quyệt giàu trong vẻ “hồn lạc phách xiêu”, khiến Kiều phải xuôi lòng tha bổng.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Thuý Kiều là người chủ động đến với tình yêu, nhưng cũng là người chủ động hi sinh hạnh phúc riêng để cứu cả gia đình. Nàng khôn ngoan, thông minh, nhưng trong bước đường lưu lạc, nàng lại bị mắc lừa sở Khanh. Nàng chấp nhận phận lẽ mọn, mong được ra khỏi lầu xanh, nhưng vẫn bị rơi vào lầu xanh. Nàng báo ân, báo oán, nhưng trước lí lẽ khôn ngoan và chặt chẽ của tội phạm, với tấm lòng rộng lượng, nàng đã tha bổng. Những mặt biểu hiện đó khác nhau, đa dạng, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của người phụ nữ vượt lên hoàn cảnh, luôn hướng thiện, rộng lượng, nhân hậu quên mình vì hạnh phúc của người khác.

Hoạn Thư là một người quỷ quái tinh ma. Thị đã bày đặt mưu bắt cóc nàng Kiều. Rồi cho Kiều và Thúc Sinh gặp mặt mà không dám nhận nhau. Thị thét mắng bắt Kiều phải chuốc rượu cho chồng với tư cách là con ở. Khi Kiều kiên quyết trừng phạt những tội lỗi, Hoạn Thư đã hoảng sợ, nhưng khéo léo kêu xin. Lí lẽ chặt chẽ, lớp lang hợp lí, không chối tội, sẵn sàng nhận trừng phạt, nhưng xin mở lượng khoan hồng. Tất cả đều thống nhất trong tính cách của một người quỷ quái tinh ma.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” số 5

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

Vị trí đoạn trích: Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán nằm ở cuối phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi chịu bao đau khổ, tủi nhục, đọa đày, Thuý Kiều được Từ Hải cứu thoát khỏi lầu xanh và giúp nàng đền ơn trả oán. Cả đoạn trích gồm 34 câu với ba nhân vật, rất ít lời miêu tả, hầu như chỉ có lời Thuý Kiều nói với Thúc Sinh, lời qua tiếng lại giữa Thuý Kiều và Hoạn Thư, vậy mà không chỉ chân dung, từ giọng điệu, tính tình của từng nhân vật đều được bộc lộ hết sức sinh động.
Đoạn trích có hai phần:
12 câu đầu: Thúy Kiều báo ân (đền ơn Thúc Sinh)
22 câu còn lại: Thúy Kiều báo oán (cuộc đối đáp giữa Kiều và Hoạn Thư).
Nội dung: Qua ngôn ngữ đối thoại Nguyễn Du đã làm nổi bật tính cách nhân vật Thuý Kiều và nhân vật Hoạn Thư. Đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán là sự thể hiện ước mơ công lí chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân: con người bị áp bức đau khổ vùng lên cầm cán cân công lí; “ở hiền gặp lành”.

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: (Trang 108 – SGK Ngữ văn 9) Mười câu đầu tả cảnh Thúy Kiều báo ânQua lời của Kiều nói với Thúc Sinh, em thấy Kiều là người như thế nào?Tại sao khi trả ơn Thúc Sinh, Kiều lại nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư? Có sự khác nhau như thế nào trong ngôn ngữ của Kiều khi nói với Thúc Sinh và khi nói với Hoạn Thư?

Bài làm:
Nhận xét về Thúy Kiều:
Thuý Kiều là một người rất nặng tình, nặng nghĩa. Thúc Sinh đã có ơn cứu nàng ra khỏi lầu xanh, nhưng lại để mặc nàng cho Hoạn Thư hành hạ mà không giúp được gì cho nàng. Sau đó nàng bơ vơ, cô độc một mình chạy trốn ra khỏi Quan Âm Các, Thúc Sinh vẫn không hay biết. Thế nhưng nàng vẫn tạ ơn cho Thúc Sinh rất hậu hĩnh.
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.
Và còn dành cho Thúc Sinh những lời rất đẹp: “Nghĩa nặng tình non, cố nhân,…”
Nàng gọi Thúc Sinh là “Người cũ” mang sắc thái thân mật, gần gũi, rồi lại gọi là “cổ nhân” mang sắc thái trang trọng. Với nàng, Thúc Sinh là người có ơn sâu nghĩa nặng.
Kiều cũng nhắc về Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa.
Có sự khác nhau trong ngôn ngữ của Kiều nói với Thúc Sinh, Kiều dùng nhiều từ điển cố “Sâm Thương” cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều. Còn lúc nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “Kẻ cắp bà già gặp nhau”, “Kiến bỏ miệng chén” thể hiện sự hạ thấp xem thường.

Câu 2: (Trang 108 – SGK Ngữ văn 9) Những câu thơ còn lại tả cảnh Thúy Kiều báo oánNhững lời đầu tiên khi Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu như thế nào?Thái độ của Kiều thể hiện qua giọng điệu ấy.
Bài làm:
Những lời đầu tiên Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, châm biếm. Nàng chào thưa Hoạn Thư và gọi Hoạn Thư là tiểu thư mặc dù vị thế của nàng và Hoạn Thư đã hoàn toàn đảo ngược.
Thoắt trông nàng đã chào thưa:”Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây! Đàn bà dễ có mấy tayĐời xưa mấy mặt, đời này mấy gan! Dễ dàng là thói hồng nhan,Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”
Thái độ của Kiều: Lời nói của Kiều lại có cả giọng đe nghiến. Câu thơ cứ như dằn ra từng tiếng với các từ ngữ được lặp lại nhấn mạnh thêm: dễ có mấy tay, mấy mặt, mấy gan, đời xưa, đời này, càng cay nghiệt, càng oan trái. Nó có ý nghĩa báo trước rằng, những gì sắp xảy ra với Hoạn Thư sẽ tương ứng với những gì Hoạn Thư đã làm với Kiều

Câu 3: (Trang 108 – SGK Ngữ văn 9) Trước thái độ của Kiều, Hoạn Thư đã xử trí ra sao? Lời kêu ca của Hoạn Thư thực chất là gỡ tội. Em hãy tìm hiểu:Trình tự lí lẽ của Hoạn ThưCác lí lẽ của HT đã tác động tới Kiều như thế nào?Qua lời đối đáp của HT. em có cảm nhận gì về tính cách của nhân vật?
Bài làm:
Trình tự lí lẽ của Hoạn Thư: rất đáng khâm phục, chặt chẽ, lôgíc.
Thứ nhất, Hoạn Thư biện hộ rằng mình là đàn bà nên ghen tuông cũng là chuyện thường tình.
Thứ hai , Hoạn Thư ngầm kể công riêng với Kiều, nhắc đến chuyện khi nàng ra khỏi Quan Âm Gác có mang theo một ít chuông vàng khánh bạc nhưng Hoạn Thư đã không cho người đuổi theo.
Thứ tư, Hoạn Thư bày tỏ thái độ khâm phục ngưỡng mộ của mình đối với nàng Kiều: Lòng riêng riêng những kính yêu.
Thứ năm, cao tay hơn Hoạn Thư đã nhận tất cả những lỗi lầm đó thuộc về mình trót đã gây việc chông gai và mong được Kiều tha thứ còn nhờ lượng trời bể của Kiều
Tác động tới Kiều: Sự phải lời của Hoạn Thư đã làm cho cơn giận của Kiều nguôi ngoai, và đặt nàng vào tình thế làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen đành phải tha bổng cho Hoạn Thư.Nhận xét tính cách Hoạn Thư: Đó là những lí lẽ rất khôn ngoan mà Kiều khó lòng bác bỏ được.HT là con người khôn ngoan, lọc lõi, đầy bản lĩnh. Đứng trước cơ hội duy nhất để có thể thoát tội, mụ đã vận dụng tất cả sự khôn ngoan, lọc lõi của mình. Hoạn Thư thật xứng với danh tiếng “Bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

Câu 4: (Trang 108 – SGK Ngữ văn 9) Vì sao Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư? Việc làm ấy của Kiều có hợp lí không?Những lời cuối của Kiều nói với Hoạn Thư cho thấy Kiều là người như thế nào?
Bài làm:
Kiều tha bổng Hoạn Thư vì:
Những lập luận lí lẽ mà Hoạn Thư đưa ra chặt chẽ, có lí khó mà bắt bẻ được.
Bản tính của Kiều vốn rất nặng tình nặng nghĩa, giàu lòng cảm thương, nàng không chỉ yêu thương mọi người mà còn rất rộng lượng với kẻ thù.
Việc Kiều tha bổng Hoạn Thư là hợp lý là đúng. Vì cách gỡ tội khôn khéo của Hoạn Thư song chủ yếu là vì lòng Kiều vốn vị tha nhân hậu.

Câu 5: (Trang 108 – SGK Ngữ văn 9) Phân tích tính cách Kiều và Hoạn Thư
Bài làm:
Qua đoạn trích ta thấy tính cách của Kiều và Hoạn Thư có những nét khác nhau:
Hoạn Thư khôn ngoan, lọc lõi, tâm địa đầy mưu mô, thủ đoạn.
Kiều là người trọng ân nghĩa, giàu lòng vị tha, tình nghĩa. Những ai đã giúp đỡ nàng đều được nhớ tới và đến ơn xứng đáng, với Thúc Sinh nàng sống có trước có sau, ân cần thân mật; đối với Hoạn Thư dù có chì chiết giận dữ lúc ban đầu nhưng nàng vẫn rộng lượng bao dung tha bổng.


Luyện tập (Trang 109 – SGK Ngữ văn 9) Phân tích những biểu hiện đa dạng nhưng hợp lí, nhất quán trong tính cách của Thúy Kiều và Hoạn Thư
Bài làm:
Đây là một đoạn trích rất hấp dẫn, một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du. Bằng cách để cho các sự việc tự vận động, nhân vật tự bộc lộ mình qua những lời đối thoại.Cả đoạn trích gồm 34 câu với ba nhân vật, rất ít lời miêu tả, hầu như chỉ có lời Thuý Kiều nói với Thúc Sinh, lời qua tiếng lại giữa Thuý Kiều và Hoạn Thư, vậy mà không chỉ chân dung, từ giọng điệu, tính tình của từng nhân vật đều được bộc lộ hết sức sinh động. Có thể dễ dàng nhận thấy trong đoạn trích có hai cảnh: báo ân và báo oán.Lí lẽ của Thuý Kiều rất rõ ràng: đây không phải là sự báo ân mà là sự trả nghĩa, đúng hơn là trả cái tình mà Thúc Sinh đã dành cho nàng. Nguyễn Du đã tạo nên một nhân vật rất sinh động, rất đời thường. Kiều đã suy nghĩ, nói năng và hành động hoàn toàn hợp với phẩm chất và tính cách của nàng.Nàng rằng :

“Nghĩa nặng tình non,

Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?

Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng

Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?

Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,

Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.

Với Hoạn Thư, dù lúc đầu Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, châm biếm. Nàng chào thưa Hoạn Thư và gọi Hoạn Thư là tiểu thư mặc dù vị thế của nàng và Hoạn Thư đã hoàn toàn đảo ngược. Nhưng với bản tính của Kiều vốn rất nặng tình nặng nghĩa, giàu lòng cảm thương, nàng không chỉ yêu thương mọi người mà còn rất rộng lượng với kẻ thù.
Khen cho: Thật đã nên rằng Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời. Tha ra, thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. Đã lòng tri quá thì nên Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.

Tính hợp lí của hành động, tha bổng cho Hoạn Thư hoàn toàn phù hợp với tính cách của Kiều, dù bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào nàng vẫn thể hiện bản tính nhân hậu của mình. Bởi vậy không có gì đáng trách trong hành động của nàng.Với Hoạn Thư, chỉ thoáng qua một giây phút sợ hãi hồn lạc phách xiêu ban đầu (Nguyễn Du không miêu tả kĩ càng và cụ thể nỗi sợ hãi của Hoạn Thư như miêu tả Thúc Sinh), Hoạn Thư đã có thể chủ động tình thế. Trong khi đang khấu đầu dưới trướng, Hoạn Thư đã liệu điều kêu ca, nhanh chóng tìm ra một con đường giải thoát.

Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

Lòng riêng riêng những kinh yêu,

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”.

Giữa dáng điệu bề ngoài với lời nói bên trong của Hoạn Thư có cái gì đó rất mâu thuẫn. Nếu quả thật đã “hồn lạc phách xiêu”, Hoạn Thư khó có thể biện hộ cho mình một cách khéo léo như vậy. Không những khẳng định “ghen tuông chỉ là thói thường của đàn bà”, Hoạn Thư còn kể đến những việc mà tưởng như mụ đã “làm ơn” cho Thuý Kiều: cho ra nhà gác để viết kinh, khi Thuý Kiều trốn đã không đuổi bắt… Đó là những lí lẽ rất khôn ngoan mà Kiều khó lòng bác bỏ được. Thì ra, vẻ “hồn lạc phách xiêu” chỉ là bộ điệu mà mụ ta tạo ra để đánh vào chỗ yếu của Thuý Kiều. Đứng trước cơ hội duy nhất để có thể thoát tội, mụ đã vận dụng tất cả sự khôn ngoan, lọc lõi của mình. Phải chăng đó cũng là bản lĩnh của người phụ nữ trước người chồng đào hoa, đa tình?

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” số 6

I. Tác giả
1. Tiểu sử
– Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.
– Cuộc đời Nguyễn Du trải qua nhiều biến cố thăng trầm nhưng chính hoàn cảnh ấy tạo cho ông vốn sống phong phú, tâm hồn sâu sắc.
2. Sự nghiệp sáng tác:
– Sự nghiệp sáng tác được đánh giá cao cả về chữ Hán và chữ Nôm.
– Tinh thần nhân đạo sâu sắc.
– Các giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đạt đến đỉnh cao.

II. Tác phẩm
1. Tìm hiểu chung
a. Ví trị đoạn trích
– Nằm ở cuối phần thứ hai (“Gia biến và lưu lạc”).
– Trải qua “hết nạn nọ đến nạn kia”, Kiều đã nếm đủ mọi điều đắng cay. Có lúc tưởng chừng nàng buông xuôi trước số phận: “Biết thân chạy chẳng khỏi trời – Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh”. Trong khi Kiều chới với, tuyệt vọng thì Từ Hải xuất hiện, Kiều gặp Từ Hải, một bước ngoặt quan trọng đã mở ra trên hành trình số phận của cô gái tài sắc họ Vương. Người anh hùng “đội trời đạp đất” chẳng những cứu Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh nhơ nhớp mà còn đưa nàng từ thân phận “con ong cái kiến” bước lên địa vị một phu nhân quyền quý, cao hơn nữa là địa vị của một quan tòa.
– Đoạn “Thúy Kiều báo ân báo oán” miêu tả cảnh Kiều đền ơn đáp nghĩa những người đã cưu mang giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn, đồng thời trừng trị những kẻ bất nhân, tàn ác. Qua ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du, chúng ta thấy được tấm lòng nhân nghĩa vị tha của Kiều và ước mơ công lí chính nghĩa của nhân dân: con người bị áp bức đau khổ vùng lên cầm cán cân công lí; “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.
b. Bố cục: 2 phần
– Mười hai câu đầu: Thúy Kiều báo ân.
– Hai mươi hai câu còn lại: Thúy Kiều báo oán.
2. Tìm hiểu chi tiết
a. Thúy Kiều báo ân
– Cảnh báo ân, diễn ra long trọng, Thúy Kiều cho người “mời” Thúc Sinh tới, hai người tâm sự và có gợi lại chuyện cũ.
– Thúy Kiều tuy có đôi chút tủi hờn, về những ngày tháng phải làm tôi tớ ở nhà Hoạn Thư nhưng nàng cũng hiểu được rằng Thúc Sinh rất nặng tình với nàng.
– Những từ “Nghĩa nặng tình non”, “Cố nhân”,” Người cũ” thể hiện Thúy Kiều là người trọng tình, trọng nghĩa, dù sao cũng một thời nàng làm “Vợ người ta” nên cũng có những kỷ niệm gắn bó, quên làm sao ngay được.
– Thúy Kiều ban tặng cho Thúc Sinh rất nhiều gấm lụa và tiền bạc, điều này thể hiện rằng Thúy Kiều là người chung thủy trước sau như một. Giàu sang, phú quý cũng không vì thế mà quên tình nghĩa xưa kia.
b. Thúy Kiều báo oán
– Thúy Kiều vẫn còn khá giận về Hoạn Thư nàng dùng những lời lẽ sâu cay, bình dân để nói về người phụ nữ nham hiểm này.
– Từ sau lần đánh ghen Thúy Kiều thành công đẩy được nàng tránh xa cuộc đời chồng mình là Thúc Sinh, Hoạn Thư hoan hỉ lắm, vì mang trong lòng sự chiến thắng, hả hê vì chồng phải ngoan ngoãn nghe lời mình.
– Thúy Kiều đã kiên nhẫn khuyên Hoạn Thư nên giữ chừng mực trong cách ăn nói của mình, đừng làm cho mọi chuyện trở nên căng thẳng.
– Hoạn Thư là người đàn bà xảo ngôn, nhưng giờ đang là thủ phạm bị báo oán, đứng trước nhiều binh linh gươm đao quanh mình, Hoạn Thư có chút run sợ. Hoạn Thư tự biết mình đã hành xử quá đáng với Thúy Kiều nên xuống nước cầu xin, dùng những lời lẽ khôn ngoan để biện hộ cho tội lỗi của mình.
– Những lời xin tội của Hoạn Thư ngẫm ra thì cũng có lý, có tình, chỉ vì khen quá nên Hoạn Thư mù quáng. Trong cuộc đời này cảnh chồng chung không ai thích và chẳng ai muốn chia sẻ chồng mình với người phụ nữ khác nên hành động của Hoạn Thư cũng có thể tha thứ được.
c. Kết thúc màn báo ân báo oán
– Diễn biến của cảnh báo ân, báo oán hết sức bất ngờ với người đọc. Lúc đầu ai cũng nghĩ Thúy Kiều sẽ phải hành hạ lại Hoạn Thư cho hả dạ những ngày nàng tủi nhục, cay đắng. Nhưng trước những lời cầu xin có tình, chí lý của Hoạn Thư, Thúy Kiều cảm thấy siêu lòng và nàng quyết định tha bổng cho Hoạn Thư trước sự ngỡ ngàng của người đọc.
– Qua đoạn trích này ta thấy Thúy Kiều là người có tấm lòng độ lượng, biết phân biệt đúng sai và không phải là người nhỏ nhen, chấp nhất. Nàng thật sự là một phụ nữ không chỉ tài sắc vẹn toàn mà còn có trái tim nhân hậu, lương thiện, bao dung với lỗi lầm của người khác.
d. Giá trị nội dung
– Đoạn trích miêu tả cảnh báo ân báo oán đối với hai nhân vật là Thúc Sinh và Hoạn Thư, qua đó làm nổi bật tấm lòng nhân nghĩa, cao thượng của Thúy Kiều.
– Thể hiện ước mơ công lí, chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân: con người bị áp bức sẽ đứng lên cầm cán cân công lí.
e. Giá trị nghệ thuật
– Đoạn trích bộc lộ tài năng của Nguyễn Du về nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
– Qua những đối đáp của Thúy Kiều với Thúc Sinh và Hoạn Thư, có thể thấy Thúy Kiều đã tự bộc lộ tính cách và tâm trạng của mình một cách hết sức tự nhiên (tấm lòng trân trọng, biết ơn với Thúc Sinh qua cách nói trang trọng, giàu ước lệ; nỗi đau đớn tủi nhục không nguôi trước sự hành hạ của Hoạn Thư khiến Kiều cũng có những lời lẽ sắc sảo, chua chát, có phần nghiệt ngã).
– Những lí lẽ gỡ tội của Hoạn Thư cũng bộc lộ rõ tính cách của con người “nói lời ràng buộc thì tay cũng già”.

1. Câu 1 trang 108 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Mười hai câu thơ đầu nói về cảnh Thúy Kiều báo ân

Qua lời của Kiều nói với Thúc Sinh, em thấy Kiều là người trọng tình trọng nghĩa. Đối với Thúc Sinh, nàng gọi chàng là “người cũ”, “cố nhân”, cho thấy nàng rất coi trọng chàng, đồng thời rất trân trọng việc chàng cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Cho dù có bao nhiêu vàng bạc cũng không thể hậu tạ sự cảm kích của nàng dành cho chàng
Trong cuộc đối thoại với Thúc Sinh, Thúy Kiều có nhắc về Hoạn Thư cho thấy nàng vẫn còn nhớ những vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho nàng. Lời lẽ khi nói dành cho Thúc Sinh có phần trang trọng, sử dụng nhiều điển cố để thấy được sự ưu ái đồng thời thể hiện sự cảm kích của nàng, còn đối với Hoạn Thư nàng dành những thành ngữ quen thuộc “Kẻ cắp bà già gặp nhau”, “Kiến bỏ miệng chén” với những từ Việt dễ hiểu: hàng động trừng phạt kẻ ác theo quan điểm của nhân dân phải được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.


2. Câu 2 trang 108 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Những lời đầu tiên của Thúy Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây” thể hiện một thái độ quyết liệt, quyết tâm của Kiều trong việc trả thù.


3. Câu 3 trang 108 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Trước thái độ của Kiều, Hoạn Thư tuy trong lòng có chút run sợ nhưng vẫn dùng lời lẽ ngọt ngào nói với Thúy Kiều. Thứ nhất, từ hai người không có cùng chung quan điểm, là kẻ thù của nhau, Hoạn Thư xóa ranh giới kẻ thù, cùng nhận “phận đàn bà” với Thúy Kiều, rằng những việc làm của mình chỉ là “ghen tuông thường tình”, rồi kể tới những việc mà cho rằng mình đã làm ơn như: Cho ra nhà gác viết kinh, không đuổi bắt khi nàng bỏ trốn,…Tỏ thái độ hối lỗi, mong tha thứ “riêng riêng những kính yêu”.
Các lí lẽ của Hoạn Thư đưa ra đã tác động tới Kiều rất lớn, đánh đúng vào tâm lý thương người và cảm thông của nàng, làm cho Thúy Kiều có phần nguôi ngoai khó lòng định tội.
Tính cách của Hoạn Thư: Là một kẻ khôn ngoan, thủ đoạn, tâm địa mưu mô, độc ác


4. Câu 4 trang 108 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư đó là việc làm hợp lý vì:

Nàng là người lương thiện, tấm lòng rộng mở.
Nó phù hợp với tính cách của nàng
Những lời nói của Hoạn Thư đã tác động tới nàng.


5. Câu 5 trang 108 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Phân tích tính cách của Thúy Kiều: Kiều là người rộng lượng, thương người, có lòng vị tha và tình nghĩa sâu sắc. Những người giúp đỡ nàng đều được nàng báo ân, nhớ ơn. Nàng cũng là người không có bụng da hẹp hòi khi tha bổng cho Hoạn Thư, điều đó cho thấy nàng là người không có bụng dạ hẹp hòi, tính toán, không nhỏ nhen, cố chấp
Phân tích tính cách Hoạn Thư: Hoạn Thư là một kẻ nham hiểm, có tâm địa xấu xa, thủ đoạn. Dù trong tình cảnh bất lợi cho mình nhưng vẫn dùng những lờ lẽ ngọt ngào lay động được người khác.


Luyện tập

Những biểu hiện đa dạng nhưng hợp lý, nhất quán trong tính cách của Thúy Kiều và Hoạn Thư là:

Thúy Kiều: Tính cách nàng yêu ghét rõ ràng, đối với những người có ơn với nàng, nàng một mực báo ơn. Ngược lại với những kẻ bạc đãi nàng, nàng quyết tâm trừng phạt. Nàng là người vừa ôn hòa, hiền lành lại vừa cương quyết cứng rắn. Tuy nhiên, trước thái độ và những lời lẽ đầy sức thuyết phục của Hoạn Thư, nàng đã tha bổng. Điều đó cho thấy nàng là người thấu hiểu và có tấm lòng rộng lượng
Hoạn Thư: Hoạn Thư là người khôn ngoan, dù run sợ trước những lời buộc tội của Kiều nhưng vẫn dùng những lí lẽ xảo trá để hòng làm nhẹ tội cho mình. Lợi dùng sự lương thiện và sự đồng cảm của Thúy Kiều để chạy tội cho bản thân.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button