Ngữ Văn

Top 6 Bài soạn “Sóng” của Xuân Quỳnh lớp 12 hay nhất (update)

Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca Việt Nam. Đã có nhiều nhà thơ viết về đề tài này với những cảm xúc và phong cách nghệ thuật của riêng mình, để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc. Xuân Diệu đã từng làm người đọc nhớ mãi khi đặt tất cả dấu ấn tình yêu mãnh liệt của mình với biển, còn Xuân Quỳnh – một nhà thơ nữ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thể hiện tình yêu của mình qua hình ảnh sóng, một sự tiếp nối độc đáo và sáng tạo trong định nghĩa về tình yêu. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn tác phẩm “Sóng” của Xuân Quỳnh hay nhất đã được KTHN tổng hợp trong bài viết dưới đây để chuẩn bị tốt nội dung tiết học.

Hi vọng bài viết trên giúp các bạn chuẩn bị tốt kiến thức về bài học trước khi đến lớp. Chúc các bạn học tốt và tiếp tục theo dõi các bài soạn văn cũng như phân tích, phát biểu cảm nghĩ trên KTHN.vn.
Là top 3 tiêu chí mà KTHN.vn luôn luôn hướng tới để đem lại những thông tin hữu ích nhất cho cộng đồng

Bài soạn “Sóng” của Xuân Quỳnh số 1

I. Đôi nét về tác giả Xuân Quỳnh

– Xuân Quỳnh sinh năm 1942, mất năm 1988, tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh
– Quê quán: La Khê, thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội)
– Xuân Quỳnh xuất thân trong một gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, Xuân Quỳnh ở với bà nội
– Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa của Đoàn văn công nhân dân Trung ương, là biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III
– Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
– Năm 2007, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
– Tác phẩm chính: Tơ tằm – Chồi biếc (in chung), Hoa dọc chiến hào, Gió Lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất, Tự hát, Hoa cỏ may, Bầu trời trong quả trứng, truyện thơ Truyện Lưu Nguyễn
– Phong cách thơ: Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường.

II. Đôi nét về tác phẩm Sóng
1. Hoàn cảnh ra đời

– Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh
– Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào

2. Bố cục
(4 phần)
– Phần 1 (2 khổ thơ đầu): Nhận thức về tình yêu qua hình tượng sóng
– Phần 2 (2 khổ tiếp theo): Suy nghĩ, trăn trở về cội nguồn và quy luật của tình yêu
– Phần 3 (3 khổ thơ tiếp theo): Nỗi nhớ, lòng thủy chung son sắt của người con gái trong tình yêu
– Phần 4 (còn lại): Khát vọng về tình yêu vĩnh cửu, bất diệt

3. Giá trị nội dung

Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.4. Giá trị nghệ thuật
– Hình tượng sóng đôi giúp nhà thơ diễn tả những cảm xúc khó nói trong tình yêu
– Thể thơ năm chữ với cách ngắt nhịp linh hoạt phù hợp trong việc diễn tả các cung bậc, sắc thái cảm xúc khác nhau
– Ngôn ngữ gần gũi, trong sáng, dung dị, tinh tế

Câu 1 (trang 156 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ xao xuyến, rộn ràng, được tạo bởi các yếu tố:

– Những câu thơ năm chữ ngắn gọn

– Nhịp thơ lúc nhịp nhàng, lúc dồn dập

– Vần thơ: đa dạng, linh hoạt bằng các vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các đợt sóng nối tiếp nhau.

Câu 2 (trang 156 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Hình tượng sóng mang nghĩa thực và nghĩa biểu tượng, gợi lên âm hưởng sóng biển: dạt dào, nhẹ nhàng

– Song hành hai hình tượng “sóng” và “em” diễn tả chân thực tình yêu đôi lứa

+ Trong khổ thơ 1 và 2, sóng được đặt trong những trạng thái đối cực: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ gợi sự liên kết trạng thái tâm lí của tình yêu

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

+ Hành trình của sóng chính là khát vọng tìm cái rộng lớn, cao cả – biển cả

→ Khát vọng chinh phục tình yêu, khát vọng muôn đời của con người

– Khổ 3 và khổ 4, hình tượng sóng, nhà thơ nhận thức về tình yêu của mình- tình yêu sánh ngang biển lớn, cuộc đời.

– Tác giả đặt câu hỏi hoài nghi, băn khoăn về nguồn cội của sóng, của tình yêu thương nhưng bất lực

Khổ thơ 5 và 6: Nỗi nhớ trong tình yêu được so sánh bằng những liên tưởng độc đáo, thú vị

+ Nỗi nhớ trong lòng người con gái đang yêu: thao thức khi ngủ, thức, da diết, mãnh liệt

Trong nỗi nhớ da diết, nhà thơ thể hiện được sự thủy chung tuyệt đối, niềm tin son sắt vào tình yêu- cuộc sống, tình yêu nào cũng tới bến bờ hạnh phúc

– Khổ 8: Câu thơ mang màu sắc triết lí, thể hiện sự lo âu, trăn trở

+ Sự khao khát hạnh phúc hiện tại, ý thức sâu sắc sự hữu hạn của đời người và sự mong manh bền chặt của tình yêu

– Khổ 9: Ước nguyện chân thành được hòa mình vào biển lớn, tình yêu và cuộc đời

+ Khát vọng sống hết mình cho tình yêu với sự hi sinh, dâng hiến

Câu 3 (trang 156 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Sóng và em có quan hệ tương đồng, sóng ẩn dụ cho tình yêu cũng như tâm hồn nhân vật “em”

+ Sóng và em lúc hòa hợp, lúc tách rời

+ Kết cấu song hành làm tăng hiệu quả của nhận thức, khám phá chủ thể trữ tình, tình yêu thủy chung, bất diệt

– Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ, cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, quan sát và suy ngẫm về tình yêu, những biến chuyển tinh tế

Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn, với những con sóng

+ Sự đa dạng muôn màu sắc, trạng thái: dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ

+ Không rõ cội nguồn, không thể định nghĩa, lý giải được

+ Sự mãnh liệt, sâu sắc trong khát khao sống, yêu thương

+ Sự chung thủy, gắn bó bền chặt

→ Sóng và em là sự cộng hưởng trọn vẹn trong suốt bài thơ, trải qua nhiều cung bậc tình yêu để hòa quyện vào nhau

→ Hình tượng sóng là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ

Câu 4 (trang 157 sgk ngữ văn 12 tập 1):

Bài thơ là lời tự bộc bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu:

– Tâm hồn sôi nổi, mạnh mẽ, khao khát yêu thương

– Là người thấu hiểu, chung thủy với tình yêu

– Tâm hồn bộc trực, thành thực bày tỏ tình yêu nhưng vẫn đầy nữ tính, chung thủy

Luyện tập

Có nhiều bài thơ so sánh tình yêu với sóng và biển, những câu thơ, bài thơ đó:

+ Khúc thơ tình người lính biển (Trần Đăng Khoa)

+ Biển (Xuân Diệu)

+ Hai nửa vầng trăng (Hoàng Hữu)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sóng” của Xuân Quỳnh số 2

Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm
I. Tác giả Xuân Quỳnh
– Xuân Quỳnh (1942 – 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở La Khê, thành phố Hà Đông tỉnh Hà Tây (thay thuộc Hà Nội).
– Bà xuất thân từ một gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, Xuân Quỳnh ở với bà nội
– Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa Đoàn văn công nhân dân Trung ương, là biên tập viên báo Văn nghệ, biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III.
– Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ.
– Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.
– Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
– Tác phẩm chính: thơ Tơ tằm – Chồi biếc (in chung 1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989), Bầu trời trong quả trứng (thơ việt cho thiếu nhi, 1982) ; truyện thơ Truyện Lưu Nguyễn (1985).

II. Tác phẩm Sóng
– Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.
– Nội dung chính: Bài thơ Sóng thể hiện tình yêu của người phụ nữ, những cung bậc cảm xúc rất phong phú: khát vọng, suy tư, nhớ nhung, chung thủy… đối với người mình yêu.
– Bố cục bài thơ Sóng: 4 phần
+ Đoạn 1: 4 câu đầu (ngẫu hứng về con sóng và tình yêu).
+ Đoạn 2: khổ 2, 3 (lí do, nguyên cớ của cảm hứng về sóng biển và tình yêu).
+ Đoạn 3: từ khổ 5 đến khổ 8 (Nối tiếp cảm hứng về sóng biển và tình yêu).
+ Đoạn 4: khổ cuối (Kết thúc bài thơ bằng ước vọng tình yêu vĩnh hằng).

Bài 1 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Nhận xét về âm điệu, nhịp điệu bài thơ. Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

Trả lời:

– Câu thơ ngắn, đều (5 chữ)

– Về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ:

+ Nhịp thơ lúc nhịp nhàng, lúc dồn dập

+ Vần thơ: đa dạng, linh hoạt bằng các vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các đợt sóng nối tiếp nhau.

+ Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước…

– Nhịp thơ thường thuận, gợi dư âm sóng biển:

Dữ dội/và dịu êm (2/3)

Ồn ào/ và lặng lẽ (2/3 Sóng/ không hiểu nổi mình (1/4)

Sóng/ tìm ra tận bể (1/4)

– Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

– Những âm điệu, nhịp điệu ấy được tạo thành bởi các yếu tố:

+ Những câu thơ liền mạch, không ngắt nhịp

+ Các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần

+ Nhịp thơ gợi dư âm sóng biển.

Bài 2 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Hình tượng bao trùm xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.

Trả lời:

– Hình tượng sóng được gợi lên từ âm hưởng sóng biển – dạt dào, nhẹ nhàng. Song song cùng hình tượng “sóng” là “em” để diễn tả tình yêu.

– Ở khổ 1 và 2, sóng được đặt trong trạng thái đối cực: dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ gợi sự liên tưởng đến trạng thái tâm lí của tình yêu “Sông không hiểu nổi mình/Sóng tìm ra tận bể”. Dường như sóng không chấp nhận được sự nhỏ hẹp của lòng sông mà phải toả ra với cái rộng dài: biển cả. Bước đi của sóng cũng là hành trình tìm đến khát vọng – khát vọng tự nhiên, chân chính, vươn tới cái đẹp, cái vĩnh hằng, trường tồn và bất tử. Khát vọng vươn ra tận bể của con sóng chính là khát vọng của tình yêu, khát vọng muôn đời của con người.

– Khổ 3 và 4, từ hình tượng sóng nhà thơ đã nhận thức về tình yêu mình – tình yêu sánh ngang biển lớn, sánh ngang cuộc đời:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

Với hình thức nghi vấn, nhà thơ thể hiện nỗi băn khoăn đi tìm cội nguồn của sóng, của tình yêu nhưng bất lực.

– Khổ 5 và 6: Nỗi nhớ trong tình yêu được diễn tả bằng những liên tưởng so sánh, độc đáo thú vị:

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

– Nỗi nhớ trong lòng người con gái đang yêu là thường trực: khi thức, ngủ, da diết, mãnh liệt:

“Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

“Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn ngàn cách trở”

Trong nỗi nhớ da diết này, nhà thơ thể hiện sự thuỷ chung tuyệt đối, niềm tin son sắt vào tình yêu – cuộc sống: Tình yêu nào rồi cũng đến bến bờ hạnh phúc.

– Khổ 8: Câu thơ mang màu sắc triết lí, thể hiện sự lo âu, trăn trở:

“Cuộc đời tuy dài thế

Năm tháng vẫn đi qua”

Niềm lo âu, sự nhạy cảm với sự trôi chảy của thời gian, thể hiện niềm khao khát nắm lấy hạnh phúc trong hiện tại – ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của đời người và sự mong manh khó bền chặt của tình yêu, hạnh phúc.

– Khổ 9: Ước nguyện chân thành được hoà mình vào biển lớn, vào tình yêu cuộc đời:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ…

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

=> Khát vọng sống hết mình cho tình yêu với sự hi sinh, dâng hiến.

Bài 3 trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Giữa sóng và em trong bài thơ có quan hệ như thế nào? Anh/chị có nhận xét gì về kết cấu bài thơ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ra sự tương đồng đó.

Trả lời:

– Giữa sóng và em có quan hệ tương đồng, vì các chi tiết về “sóng” chính là những chi tiết ẩn dụ cho tình yêu và tâm hồn nhân vật “em”. Chúng có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một –> hình tượng này tuy hai mà một. Kết cấu song hành đó làm tăng hiệu quả của sự nhận thức và khám phá của chủ thể trữ tình về một tình yêu thủy chung, bất diệt.

– Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, quan sát biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng giống như sóng biển, đa dạng và biến hoá, mạnh mẽ và thuỷ chung. Rồi cô ước ao hoá thành con sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu”. Đây là kết cấu của một bài thơ trữ tình khó phân thành đoạn rõ ràng.

Tuy nhiên, nếu cần phải chia thành mấy đoạn, có thể chia như sau:

+ Đoạn 1: 4 câu đầu (ngẫu hứng về con sóng và tình yêu).

+ Đoạn 2: khổ 2, 3 (lí do, nguyên cớ của cảm hứng về sóng biển và tình yêu).

+ Đoạn 3: từ khổ 5 đến khổ 8 (Nối tiếp cảm hứng về sóng biển và tình yêu).

+ Đoạn 4: khổ cuối (Kết thúc bài thơ bằng ước vọng tình yêu vĩnh hằng).

– Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn với những con sóng. Sự tương đồng đó là:

+ Đa dạng, muôn hình muôn vẻ:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

“Con sóng dưới lòng sâu

Con sóng trên mặt nước”

+ Không rõ cội nguồn, không thể cắt nghĩa:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau?

+ Mãnh liệt, sâu sắc:

Sóng không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể

“Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

+ Thủy chung:

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh – một phương

Cứ như thế, sóng và em xoắn xuýt, sóng đôi, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ, qua nhiều cung bậc của tình yêu, để rồi cuối cùng nhập với nhau, hoà tan với nhau ở khổ thơ kết thúc:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ.

Đó chính là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng sóng của Xuân Quỳnh.

– Với nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng đôi: sóng và em – âm điệu dào dạt, bài thơ là bản tình ca ca ngợi tình yêu chân thành, mãnh liệt, thủy chung, thể hiện tâm hồn đôn hậu mà trẻ trung, sôi nổi trong khát vọng tình yêu, hạnh phúc.

Bài 4 trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh/ chị, tâm hồn đó có những đặc điểm gì?

Trả lời:

Tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu có đặc điểm:

– Chân thành, tha thiết, nồng nàn, mãnh liệt trong tình yêu, một khi đã yêu thì ai cũng yêu hết mình, không có gì ngăn trở được đặc biệt người phụ nữ lại càng như vậy.

– Tình yêu của người phụ nữ rất phong phú, với nhiều cung bậc của tình yêu: khát vọng, suy tư, nhớ nhung, chung thủy,…

-> Khát vọng mãnh liệt, nhớ nhung da diết và đặc biệt là niềm chung thủy sắt son, bền vững trong tình yêu.

– Tình yêu của người phụ nữ rất đời thường, từ cực này sang cực khác, ước vọng của họ cũng rất khiêm nhường, chỉ mong được làm “con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu để ngàn năm còn vỗ”, nhưng đó không phải là thứ tình yêu chật hẹp, tầm thường mà luôn vươn tới một tình yêu rộng lớn, cao đẹp hơn: khi “sóng không hiểu nổi mình” thì dứt khoát “sóng tìm ra tận bể”.


Luyện tập

Câu hỏi luyện tập trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1

Có nhiều bài thơ, câu thơ so sánh tình yêu với sóng và biển. Hãy sưu tầm những câu thơ, bài thơ đó.

Gợi ý:

Một số bài thơ sử dụng phép so sánh tình yêu với sóng và biển như:

+ Biển (Xuân Diệu)

+ Khúc thơ tình người lính biển (Trần Đăng Khoa)

+ Thuyền và biển (Xuân Quỳnh)

+ Hai nửa vầng trăng (Hoàng Hữu)

+ Chuyện tình biển và sóng (Trần Ngọc Tuấn)

+ …

Biển (Xuân Diệu)

“Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê…

Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng…

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt…

Cũng có khi ào ạt

Như nghiến nát bờ em

Là lúc triều yêu mến

Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết,

Để những khi bọt tung trắng xóa

Và gió về bay tỏa nơi nơi

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa,

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!”

Tổng kết

Qua hình tượng Sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hoà hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thuỷ, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.Sóng là một trong những bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh. Đó là tiếng lòng rạo rực đầy khát vọng của người phụ nữ đang đắm chìm trong hạnh phúc của tình yêu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sóng” của Xuân Quỳnh số 3

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả. Cuộc đời

Xuân Quỳnh tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (1942-1988)
Quê ở làng La Khê – Hà Đông – Hà Tây
Xuân Quỳnh có một tuổi thơ thiếu thốn tình thương: Mẹ mất sớm, không được ở với cha. Có lẽ chính điều này đã tác động rất lớn đến Xuân Quỳnh khiến cho nhà thơ luôn luôn khao khát mái ấm gia đình, thơ bà thì dạt dào cảm xúc yêu thương
Ban đầu, Xuân Quỳnh chưa đến sự nghiệp văn chương mà là một diễn viên múa. Bà yêu một người bạn đồng nghiệp sau đó họ chia tay vì không hợp nhau
Sau này Xuân Quỳnh chuyển sang làm thơ và nên duyên vợ chồng với nhà viết kịch nổi tiếng lưu Quang Vũ. Cả hai người đã có những phút giây hạnh phúc bên nhau mặc dù cả hai đều có con riêng. Thế nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu thì gia đình họ gặp phải một tai nạn kinh hoàng. Và tai nạn ấy đã cướp đi tính mạng của tất cả gia đình họ
Xuân Quỳnh là một người phụ nữ có cuộc đời đa đoan nhiều lo âu vậy nên bà rất biết quý trọng và nâng niu hạnh phúc gia đình
b. Sự nghiệp

Xuân Quỳnh là một nhà thơ trẻ tiêu biểu thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác phẩm chính của bà: tự hát, hoa dọc chiến hào, tiếng gà trưa…
Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh: Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của người phụ nữ giàu tình yêu thương, vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm, đầy mãnh liệt và khát khao trong tình yêu. Vừa lo âu về sự tàn phai đỗ vỡ cũng như dự cảm bất trắc.

2. Tác phẩm

Sóng được sáng tác vào năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu.
Bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.
Bài thơ được in trong tập Hoa dọc chiến hào.
Bố cục: 3 phần
Hai khổ đầu: sóng và tình yêu
Bốn khổ sau: tình yêu và nỗi nhớ
Còn lại: tình yêu và khát vọng


B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1 (Trang 156 SGK) Anh/ chị có nhận xét gì về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ? Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

Bài làm:
Âm điệu, nhịp điệu bài thơ xao xuyến, rộn ràng, được tạo bởi:
Câu thơ ngắn, thể thơ 5 chữ
Nhịp thơ thường nhẹ nhàng, gợi dư âm sóng biển:
Dữ dội / và êm dịu (2/3)Ồn ào / và lặng lẽ (2/3)Sông / không hiểu nổi mình (1/4)Sóng / tìm ra tận bể (1/4)
Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau

Câu 2 (Trang 156 SGK) Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.
Bài làm:
“Sóng” là sóng biển – đúng như vậy, bài thơ đã cho thấy rõ – nhưng càng đúng hơn, “sóng” ở đây là sóng tình – điều này càng sâu sắc, thấm thía hơn trong thi phẩm. Xuân Quỳnh đã dùng sóng biển để nói lên sóng tình, lấy một hiện tượng của thiên nhiên để giãi bày một tình cảm của lòng người.
Hình tượng sóng được gợi lên từ âm hưởng sóng biển – dạt dào, nhàng của thể thơ 5 chữ. Song song cùng hình tượng “sóng” là “em” hình tượng đẹp đẽ để diễn tả tình yêu.
Ở khổ 1 và 2, sóng được đặt trong trạng thái đối cực, gợi sự liên tưởng đến trạng thái tâm lí của tình yêu
Phép liệt kê của Xuân Quỳnh đã truyền cho người đọc có thêm nhiều cảm nhận về tính phong phú của sóng và nhiều gương mặt đặc điểm tính cách. Khi “ dữ dội ồn ào” lúc biển động bão tố, phong ba nổi lên vỗ sóng lúc lại “dịu êm, lặng lẽ” khi biển lặng, bình minh lên nhẹ nhàng sóng vỗ.
Dù phong phú về tính cách như thế nào “sóng” vẫn được quy chiếu về hai mặt đối lập nhau trong một chỉnh thể thống nhất là biển cả.
Sóng được diễn tả dưới nhiều cung bậc hình thức, nghệ thuật đối lập để thấy được những trạng thái của sóng biển và đồng thời cũng ẩn dụ thể hiện cho những cung bậc cảm xúc khác nhau khi yêu lúc giận hờn, lúc lại yêu thương của người con gái.
Khổ 3 và 4, từ hình tượng sóng nhà thơ đã nhận thức về tình yêu mình – Tình yêu sánh ngang biển lớn, sáng ngang cuộc đời:
Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau
Với hình thức nghi vấn, nhà thơ thể hiện nỗi băn khoăn đi tìm cội nguồn của sóng, của tình yêu nhưng bất lực. Hai câu thơ cuối là lời thú tội hồn nhiên nhưng sâu sắc. Đó chính là quy luật của tình yêu.
Khổ 5 và 6: Nỗi nhớ trong tình yêu được diễn tả bằng những liên tưởng so sánh, độc đáo thú vị:
Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức
Nỗi nhớ trong lòng người con gái đang yêu là thường trực: khi thức, ngủ, da diết, mãnh liệt:
Lúc nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương

Con nào chẳng tới bờ

Dù muôn ngàn cách trở
Cứ thế, “sóng” và “em” xoắn xuýt sóng đôi, cộng hưởng với nhau trong suốt bài thơ, qua nhiều cung bậc của tình yêu, để rồi cuối cùng nhập vào nhau, hòa tan với nhau ở khổ thơ kết thúc:
Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ
Đó chính là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ qua hình tượng “sóng” của Xuân Quỳnh.

Câu 3 (Trang 156 SGK) Giữa sóng và em trong bài thơ có mối liên hệ như thế nào? Anh/chị có nhận xét gì về nghệ thuật kết cấu bài thơ? Người phụ nữ đang yêu thấy sự tương đồng giữa các trạng thái của tâm hồn mình với những con sóng. Hãy tự chỉ ra sự tương đồng đó.
Bài làm:
Có hai hình tượng luôn song hành cùng nhau đó là sóng và em. Có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một. Hình tượng này tuy hai mà một. Những đặc tính của sóng cũng giống như tâm trạng của người con gái trong tình yêu. Kết cấu này đã làm tăng hiệu quả của sự nhận thức và khám phá của chủ thể trữ tình về một tình yêu thủy chung, bất diệt.
Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, nhân quan sát sóng biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng như sóng biển, đa dạng và biến hóa, mạnh mẽ và thủy chung. Rồi cô ước ao hóa thành cong sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu”.

Câu 4 (Trang 156 SGK) Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh/chị, tâm hồn người phụ nữ đó có đặc điểm gì?
Bài làm:
Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu, cô khao khát một tình yêu chân thành, mãnh liệt. Tâm hồn của một người đang yêu đã thành thực với chính lòng mình, bộc bạch những suy nghĩ và suy tư về tình yêu ấy. Tuy mạnh dạn bày tỏ như vậy nhưng lời tỏ tình vẫn nhẹ nhàng, sâu săc và đầy nữ tính, khao khát một tình yêu vĩnh hằng trướ sự hữu hạn của cuộc đời con người

Luyện tập
Bài tập: (Luyện tập – Trang 157)

Có nhiều câu thơ, bài thơ so sánh tình yêu với sóng và biển. Hãy sưu tầm những câu thơ, bài thơ đó
Bài làm:
Chuyện tình sóng và biển
Có một lần biển và sóng yêu nhau,

Người ta bảo biển là tình đầu của sóng.

Sóng dữ dội vỡ bờ cát trưa nóng bỏng,

Biển rì rầm hát mãi khúc tình ca.

Có một lần sóng nông nổi đi xa,

Bao kẻ đến và tỏ tình với biển.

Biển sợ rằng sóng không về vĩnh viễn,

Nên đành rằng hò hẹn với vầng trăng.

Sóng trở về thế là biển ăn năn,

Sóng đâu nợ để biển xanh kia vô tội.

Tình chỉ đẹp khi không còn gian dối,

Và bỏ đi kể từ đó không về.

Có một lần anh đã kể em nghe.

Chuyện tình yêu của chúng mình vốn không đơn giản,

Anh phiêu lưu còn em thì lãng mạn,

Và thời gian hò hẹn cũng mong manh.

Sóng bạc đầu từ đó phải không anh?

Còn biển kia vẫn xanh màu huyền bí?

Không phải đâu em biển kia không chung thủy,

Dẫu bạc đầu sóng vẫn mãi thủy chung.

Anh dắt em giữa biển nghìn trùng,

Nghe dã tràng kể chuyện xưa xa vắng.

Dẫu không phải tình đầu em trong trắng,

Chỉ mong anh một lòng với cổ tích biển ngày xưa!
(Trần Quốc Tuấn)

Biển
Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng

Bờ cát dài phẳng lặng

Soi ánh nắng pha lê…

Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng…

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại

Cho đến mãi muôn đời

Đến tan cả đất trời

Anh mới thôi dào dạt…

Cũng có khi ào ạt

Như nghiến nát bờ em

Là lúc triều yêu mến

Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh

Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành

Một tình chung không hết,
Để những khi bọt tung trắng xóa

Và gió về bay tỏa nơi nơi

Như hôn mãi ngàn năm không thỏa,

Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!
(Xuân Diệu)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sóng” của Xuân Quỳnh số 4

I. Tìm hiểu chung

1. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một trong các bài thơ đặc sắc nhất viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.

2. Bố cục

Bài thơ được chia làm 3 phần

Phần 1: 2 khổ thơ đầu

Nội dung: Mối quan hệ giữa sóng và em

Phần 2: 4 khổ thơ tiếp theo

Nội dung: Nỗi nhớ của người con gái trong tình yêu và sự lí giải về cội nguồn của tình yêu

Phần 3: Còn lại

Nội dung: Khát vọng được thấu hiểu, được hòa mình vào tình yêu lớn của nhà thơ


II. Tìm hiểu chi tiết bài thơ

Câu 1 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Nhận xét về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ Sóng

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do 5 chữ, diễn tả mạch lạc và cảm xúc dồi dào của người con gái trong tình yêu. Bài thơ tựa như một lời bài hát với giai điệu ngọt ngào, lãng mạn và không kém phần bay bổng.

– Về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ:

+ Nhịp thơ lúc nhịp nhàng, lúc dồn dập

+ Vần thơ: đa dạng, linh hoạt bằng các vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các đợt sóng nối tiếp nhau.

+ Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước…

– Những âm điệu, nhịp điệu ấy được tạo thành bởi các yếu tố:

+ Những câu thơ liền mạch, không ngắt nhịp

+ Các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần

+ Nhịp thơ gợi dư âm sóng biển

Câu 2 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Hình tượng bao trùm toàn bộ bài thơ và xuyên suốt theo bài thơ chính là hình tượng sóng

– Khổ thơ 1 và 2: Hình tượng sóng diễn tả những cảm xúc, tâm trạng của người con gái trong tình yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

Từ đó, nhà thơ khái quát lên quy luật của tình yêu: rằng con người muốn vượt qua những cái nhỏ bé, tầm thường để vươn mình đến với tình yêu. Tình yêu ấy còn được khẳng định sẽ mãi trường tồn, bất diệt với thời gian:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế”

– Khổ 3+4+5+6: Sự đắm chìm của người con gái trong tình yêu thông qua việc lí giải cội nguồn của hình tượng sóng, cũng là cội nguồn của tình yêu:

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

Hình tượng sóng đi theo từ đầu bài thơ cho đến khi nữ thi sĩ muốn lí giải cội nguồn của tình yêu, chị cũng phải tìm đến cội nguồn của hình tượng sóng. Chính vì không lí giải được hết tường tận cội nguồn của các con sóng ngoài biển khơi nên nhà thơ cũng không thể hiểu nổi tình yêu của mình bắt đầu từ khi nào, chỉ biết rằng khi đã chìm đắm trong tình yêu thì chỉ có nỗi nhớ da diết:

“Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nghĩ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Nhà thơ Xuân Quỳnh cũng dùng hình ảnh sóng để nhắc về nỗi nhớ dành cho người yêu. Rõ ràng, hình tượng sóng luôn thể hiện và có những nét tương đồng trong tâm trạng của người con gái trong tình yêu.

– Ba khổ thơ cuối (khổ 7,8,9): hình tượng sóng vươn ra biển khơi cũng chính là khát vọng được hòa mình vào biển lớn của nữ sĩ Xuân Quỳnh.

Câu 3 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Hình tượng “sóng” và hình tượng “em”

– Đây là hai hình tượng sóng đôi, đồng hành cùng nhau xuyên suốt cả bài thơ:

+ Sóng và em lúc hòa hợp, lúc tách rời

+ Kết cấu song hành làm tăng hiệu quả của nhận thức, khám phá chủ thể trữ tình, tình yêu thủy chung, bất diệt

– Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ, cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, quan sát và suy ngẫm về tình yêu, những biến chuyển tinh tế dọc theo mạch cảm xúc dâng trào.

Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn với những con sóng

+ Sự đa dạng muôn màu sắc, trạng thái: dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ

+ Không rõ cội nguồn, không thể định nghĩa, lý giải được

+ Sự mãnh liệt, sâu sắc trong khát khao sống, yêu thương

+ Sự chung thủy, gắn bó bền chặt

→ Sóng và em là sự cộng hưởng trọn vẹn trong suốt bài thơ, trải qua nhiều cung bậc tình yêu để hòa quyện vào nhau

→ Hình tượng sóng là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ

Câu 4 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu. Người phụ nữ trong tình yêu thật đằm thắm, thật dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương mà cũng thật chung thủy. Người phụ nữ đã táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sóng” của Xuân Quỳnh số 5

Trả lời câu 1 trang 156 SGK Ngữ văn 12, tập 1

– Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ là âm điệu, nhịp điệu của những con sóng trên biển và cũng là những con sóng lòng tràn đầy xúc cảm của người phụ nữ đang yêu.

– Âm điệu, nhịp điệu trên được tạo bởi các yếu tố sau:

+ Thể thơ năm chữ ngắn gọn cùng cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng túng.

+ Phương thức tổ chức ngôn từ và hình ảnh, sử dụng những đối sánh liên tiếp phân thành hai cực (dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, sông – biển, ngày xưa – ngày sau, lòng sâu – mặt nước, ngày – đêm, xuôi – ngược, phương Bắc – phương Nam, dài – rộng) tạo nhịp sóng xô ra – vào của con sóng biển, sóng lòng.


Trả lời câu 2 trang 156 SGK Ngữ văn 12, tập 1

– Sóng chứa đựng nhiều trạng thái đối lập: dữ dội>< dịu êm, ồn ào >< lặng lẽ, sóng tìm ra tận bể để tự lí giải => diễn tả thuộc tính phức tạp, mâu thuẫn và khát khao khám phá trong tình yêu (khổ 1).

– Cũng như sóng, khát vọng tình yêu của tuổi trẻ là muôn đời: Ngày xưa – ngày sau, vẫn thế, bồi hồi (khổ 2).

– Sóng song hành và làm nổi bật những băn khoăn của em: Từ nơi nào sóng lên?, Gió bắt đầu từ đâu?, Khi nào ta yêu nhau => thuộc tính bí ẩn, kì diệu của tình yêu (khổ 3,4).

– Sóng nhớ bờ: nỗi nhớ cồn cào bao trùm không gian (dưới lòng sâu, trên mặt nước) và thời gian (ngày đêm) giống như em nhớ anh cả ý thức và vô thức (cả trong mơ còn thức) => nỗi nhớ là thuộc tính đặc trưng của tình yêu (khổ 5).

– Sóng luôn tới bờ dù muôn vời cách trở => niềm tin vào sức mạnh vượt mọi trở ngại của tình yêu đích thực (khổ 7).

– Khát vọng hòa cái tôi vào cái ta, hòa cá nhân vào cuộc đời chung để bất tử hóa tình yêu gửi gắm trong hình tượng con sóng Làm sao được tan ra/Thành trăm con sóng nhỏ => khát khao tình yêu sẽ ý nghĩa và còn lại mãi với đời (khổ 9).

=> Sóng giúp diễn tả chân thực tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, đầy bản lĩnh của người phụ nữ.


Trả lời câu 3 trang 156+157 SGK Ngữ văn 12, tập 1

– Hai hình tượng sóng và em có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, cùng song hành xuyên suốt bài thơ. Thực chất, đó sóng là sự phân thân của em, giúp em diễn tả tình yêu một cách kín đáo, ý nhị, tinh tế. Hai hình tượng này ẩn hiện trong nhau và làm nổi bật lẫn nhau.

– Bài thơ có kết cấu sóng đôi

– Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái của tâm hồn mình với con sóng, đó là: sự mâu thuẫn, phức tạp; những khát khao mãnh liệt; nỗi nhớ tha thiết cồn cào; sự trường tồn vĩnh cửu:

+ Con sóng ở tự nhiên mênh mông biển lớn kia có rất nhiều đối cực khác nhau, trạng thái khác nhau. Cũng như tình yêu vậy, tình yêu cũng có rất nhiều cung bậc, trạng thái và cuối cùng điều muốn nói nhất ở đây chính là như tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống nhất (Hai câu đầu khổ 1)

+ Cuộc hành trình có thể nói đầy táo bạo của sóng khi tìm ra với biển khơi hay nói khác đi đó cũng chính là cuộc hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích. Và phải chăng nó giống như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (hai câu cuối khổ 1)

+ Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng chính là điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm, mọi việc, mọi chuyện dường như khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3, 4 )

+ Sóng luôn luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao mãnh liệt, trăn trở cứ lặp đi lặp lại không yên, và cũng như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy (Phân tích các khổ 5, 6, 7, 8 )

+ Sóng còn chính là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu và lấy cái vĩnh cửu của sóng để nói , để ví von với tình yêu. Và đó là khát vọng muôn đời của bất cứ ai trong cuộc đời khi yêu nồng cháy. Và trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình trong bài thơ) muốn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực (khổ cuối)


Trả lời câu 4 trang 157 SGK Ngữ văn 12, tập 1

Bài thơ là lời tự bạch của người phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn chân thành, đằm thắm, luôn da diết khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc. Tình yêu của người phụ nữ ấy qua bài Sóng thật thiết tha, chung thủy, mạnh mẽ, mong muốn vượt lên trên thử thách của thời gian, khó khăn trong cuộc đời và sự hữu hạn của kiếp người.


Luyện tập

Câu hỏi (trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

– Biển (Xuân Diệu)

– Thuyền và biển (Xuân Quỳnh)

– Bên biển (Huy Cận)

Bố cục

Bố cục( 4 phần)

– Phần 1 (khổ 1+2) : Sóng – Khát vọng tình yêu của người con gái

– Phần 2 (khổ 3+4) : Ngọn nguồn của sóng – Truy tìm sự bí ẩn của tình yêu

– Phần 3 (khổ 5+6+7) : Sóng – Nỗi nhớ thủy chung trong tình yêu

– Phần 4 (Khổ 8+9) : Những suy tư về cuộc đời và khát vọng trong tình yêu.

Nội dung chính

Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Sóng” của Xuân Quỳnh số 6

Câu 1:

* Về âm điệu, nhịp điệu bài thơ.

– Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước… Âm hưởng của những con sóng lúc miên man dịu dàng, lúc cuồn cuộn vỗ bờ, lúc trào dâng bạc đầu, lúc lặng chìm đáy nước biển khơ,…

* Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố:

– Thể thơ năm chữ

– Những câu thơ liền mạch, từng không ngắt nhịp

– Các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần

– Nhịp thơ gợi dư âm sóng biển

– Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

Câu 2:

Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng.

– “sóng” mang nghĩa tả thực: con sóng với nhiều trạng thái mâu thuẫn, trái ngược nhau. Sóng được miêu tả chân thực, sinh động ngoài biển khơi. Sóng có tính cách, tâm trạng, tâm hồn.

– Nghĩa biểu tượng của “sóng”:

+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng.

+ Hình tượng sóng được gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sống miên man, vô tận.

● Sóng được diễn tả trong những trạng thái trái ngược: Dữ dội/dịu êm – Ồn ào/lặng lẽ.

● Sóng hiện lên thật mạnh mẽ qua biện pháp ẩn dụ – nhân hóa: “sông không hiểu”, “sóng tìm ra”

● Nỗi nhớ mãnh liệt của sóng: “ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được”

=> Sóng như có linh hồn, tính cách, tâm trạng

+ Là hình tượng ẩn dụ, sự hoá thân của nhân vật trữ tình “em”. Xuân Quỳnh lấy hình tượng sóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi, chân thành và dạt dào khát vọng.

Câu 3:

* Hai hình tượng là “sóng và em”: song hành, tuy hai mà một, khi hoà nhập, khi tách rời diễn tả sâu sắc,sinh động, mãnh liệt khát vọng của Xuân Quỳnh.

Chúng có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một.

– Cuộc hành trình có thể nói đầy táo bạo của “sóng” khi tìm ra với biển khơi hay nói khác đi đó cũng chính là cuộc hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích của “em”

– Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng chính là điểm khởi đầu trong mọi chuyện khó nắm bắt của tình yêu.

– Sóng trường tồn cùng thời gian (ngày xưa – ngày sau) ; không bao giờ ngưng nghỉ, cũng như tình yêu con người, đã từ ngàn xưa và còn mãi với con người, nhất là người trẻ tuổi.

– Sóng còn chính là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu và lấy cái vĩnh cửu của sóng để nói , để ví von với tình yêu.

=> hình tượng sóng đã như cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ trong tình yêu, nét đẹp hiện đại của người phụ nữ trong tình yêu: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc.

* Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch trong dòng suy nghĩ và cảm xúc

* Sự tương đồng trong tâm hồn người phụ nữ với các con sóng:

Sóng nhớ bờ- ngày đêm không ngủ, em nhớ anh: khi thức lẫn khi vô thức (mơ)=>sự tương đồng trong nỗi nhớ: sâu đậm, chiếm cả tầng sâu, bề rộng (lòng sâu, mặt nước); khắc khoải trong mọi thời gian (ngày- đêm, mơ- thức), choáng ngợp cả lòng người.

– Sự khẳng định: con sóng nào chẳng tới bờ, dù muôn vời cách trở → khao khát gắn bó thủy chung, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, cách trở.


Câu 4: Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu. Người phụ nữ trong tình yêu, tình yêu thật đằm thắm, thật dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương, thật chung thủy. Người phụ nữ đã táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Luyện tập.

Một số bài thơ viết về tình yêu có sự so sánh với sóng và biển:

+ Biển (Xuân Diệu):

“Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi…”

+ Khúc thơ tình người lính biển (Trần Đăng Khoa):

…Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button