Đánh giá

Top 6 Bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” lớp 9 hay nhất

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, một cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam. “Truyện Kiều” là tác phẩm được coi là hồn dân tộc trong đó đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” được đánh giá là thành công nhất của tác giả với tài năng sử dụng bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất. Đoạn trích đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi đáng thương và nỗi nhớ người thân tha thiết, tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” hay nhất mà Toplist tổng hợp trong bài viết sau để hiểu đoạn trích và chuẩn bị tốt nội dung tiết học.

Bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” số 1


Bố cục:

+ Phần 1 (6 câu đầu): Cảnh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích

+ Phần 2 (8 tám câu thơ tiếp): Nỗi nhớ thương của Kiều đối với Kim Trọng và với cha mẹ mình

+ Phần 3 (tám câu thơ cuối cùng): Tâm trạng bế tắc, buồn thảm của Thúy Kiều.

Hướng dẫn soạn bài

Bài 1 (trang 95 sgk ngữ văn 9 tập 1)

– Trong sáu câu thơ đầu, khung cảnh thiên nhiên trước lầu Ngưng Bích với không gian, thời gian được nhìn qua góc nhìn của Thúy Kiều

+ Hoàn cảnh: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, cô đơn tội nghiệp

– Cảnh vật trước lầu Ngưng Bích mênh mông, rộng lớn, tô đậm tình cảnh cô đơn, trơ trọi của Kiều: non xa, trăng gần, bốn bề bát ngát xa trông, non xa, trăng gần…

– Bao quanh Kiều là không gian, thời gian tuần hoàn đến nhàm chán càng nhấn đậm tình cảnh cô đơn, buồn tủi của Kiều

– Hoàn cảnh, kết hợp với cảnh vật khiến tâm trạng của Kiều chứa đầy uất ức, hờn tủi trước sự bế tắc không cách nào thoát ra được.

Bài 2 (Trang 95 sgk ngữ văn 9 tập 1)

– Tám câu thơ tiếp là nỗi thương nhớ của Kiều về người yêu và gia đình.

Trình tự nỗi nhớ phù hợp với diễn biến tâm trạng của nhân vật, Kiều nhớ người yêu trước rồi nhớ tới cha mẹ.

– Trình tự nỗi nhớ hợp lý bởi vì Kiều đã hi sinh vì gia đình, vì cha mẹ. Khi Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, Kiều nhớ tới Kim Trọng bởi Kim Trọng không hề biết Kiều phải bán mình chuộc cha, Kim Trọng sẽ ngày đêm uổng công thương nhớ Kiều

b, Tác giả sử dụng hình ảnh có tính biểu trưng:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ.

– “Chén đồng” hình ảnh gợi nhắc về đêm trăng thề nguyền giữa Kim Kiều. Nhưng giờ đây mỗi người một phương

+ Kiều tưởng tượng Kim Trọng ngóng trông nàng mỏi mòn.

+ “Tấm son” tấm lòng son sắt của Kiều vẫn hướng về Kim Trọng

– Nỗi nhớ về gia đình: sử dụng các điển tích “Sân Lai”, “Quạt nồng ấp lạnh” để nói về nỗi nhớ của Thúy Kiều về gia đình

+ Kiều lo cha mẹ già không có ai chăm sóc khi ở nhà.

+ Kiều là người con có hiếu, biết yêu thương, quan tâm tới cha mẹ.

→ Kiều là nhân vật giàu tình yêu thương, có hiếu. Kiều vượt lên trên nỗi đau của bản thân để suy nghĩ cho người yêu, gia đình.

Câu 3 (trang 96 sgk ngữ văn 9 tập 1)

a, Cảnh vật ở đây là cảnh tưởng tượng của Kiều vì qua mỗi cảnh vật. Mỗi bức tranh thiên nhiên là một kiểu tâm trạng của Thúy Kiều.

– Nỗi nhớ cha mẹ, quê hương, Kiều trông ngóng theo “cánh buồm xa xa” buổi chiều hôm

– Kiều nhớ người yêu, xót xa cho tình duyên lỡ dở “hoa trôi man mác biết là về đâu”

– Kiều đau đớn buồn tủi cho thân phận mình, khi rơi vào cuộc sống bế tắc “ ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

→ Từng cảnh vật, chi tiết chứa đựng tâm trạng, tình cảm của Kiều. Cảnh vật cùng một màu bi thương, buồn tủi.

– Cụm từ Buồn trông lặp lại bốn lần trong tám câu thơ những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dài dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa tới gần.

– Tác giả diễn đạt sâu sắc nội tâm nhân vật Kiều khi rơi vào cảnh bế tắc, không có lối thoát cho bản thân.

– Sóng gió nổi lên như sự báo về những đau khổ sẽ ập tới cuộc đời Kiều.

Luyện tập

Bài 1 (trang 96 sgk ngữ văn 9 tập 1)

– Tả cảnh ngụ tình là bút pháp đặc trưng của văn học trung đại. Sử dụng cảnh để bộc lộ tâm trạng của con người, chứ không đơn thuần là tả cảnh.

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối

+ Cảnh vật được nhìn qua lăng kính tâm trạng của nhân vật nên nhuốm màu rõ rệt

Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa: gợi liên tưởng đến những chuyến đi xa, rời khỏi bến đỗ

+ Nỗi lo âu về số phận lưu lạc, lênh đênh: Buồn trông ngọn nước mới sa/ Hoa trôi man mác biết là về đâu

+ Cảnh vật nhuộm một màu “rầu rầu” của tâm trạng. “Buồn trông nội cỏ rầu rầu”

+ Dự cảm về một số phận bất trắc, khổ cực của bản thân “ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

→ Tám câu thơ diễn tả tâm trạng, nỗi cô đơn, lạc lõng, đầy lo âu về số phận của Thúy Kiều

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” số 2


Trả lời câu 1 (trang 95 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Em hãy tìm hiểu cảnh thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu:

– Đặc điểm không gian trước lầu Ngưng Bích.

– Thời gian qua cảm nhận của Thúy Kiều

– Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Thúy Kiều đang ở trong hoàn cảnh, tâm trạng như thế nào? Từ ngữ nào góp phần diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy?

Lời giải chi tiết:

– Đặc điểm không gian lầu Ngưng Bích:

+ Rộng lớn, mênh mông, bát ngát: “non xa”, “trăng gần” “bát ngát” . Không gian mở ra chiều cao, chiều xa. Hình ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi, chênh vênh, đơn độc giữa không gian.

+ Trống trải, hoang vắng, không có dấu hiệu của sự sống: “cát vàng”, “bụi hồng”, “cồn nọ”, “dặm kia” -> phủ định sự sống, gợi sự ngổn ngang của cảnh vật.

– Thời gian qua cảm nhận của Thúy Kiều:

+ Hình ảnh trăng, mây sớm đèn khuya biểu đạt sự quay vòng của thời gian. Cùng với những hình ảnh gợi tả không gian, sự tuần hoàn đều đặn của thời gian càng nhấn đậm thêm tình cảnh cô đơn, buồn bã của Kiều.

+ “Khóa xuân”: giam hãm tuổi thanh xuân

– Hoàn cảnh và tâm trạng của Kiều: bị giam hãm, tâm trạng cô đơn, buồn tủi, hổ thẹn.


Trả lời câu 2 (trang 95 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Tám câu thơ tiếp theo nói lên nỗi nhớ thương của Kiều.

a. Trong cảnh ngộ của mình nàng đã nhớ đến ai? Nhớ ai trước, ai sau? Nhớ như thế có hợp lí không? Vì sao?

b. Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khau nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau. Em hãy phân tích nghệ thuật dùng từ ngữ, hình ảnh để làm sáng tỏ điều đó.

c. Em có nhận xét gì về tấm lòng Kiều qua nỗi nhớ thương của nàng?

Lời giải chi tiết:

a.

– Kiều nhớ cha mẹ và Kim Trọng

– Nhớ tới Kim Trọng trước, cha mẹ sau.

– Trình tự hợp lí. Vì: Nguyễn Du để Kiều nhớ tới Kim Trọng trước là hoàn toàn phù hợp với diễn biến tâm lí của nhân vật trong cảnh ngộ cụ thể, đảm bảo tính chân thực cho hình tượng. Trong tình cảnh bị Mã Giám Sinh làm nhục, lại ép tiếp khách làng chơi nên hiện trạng tâm lí Kiều là nỗi đau đớn về “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”, là nỗi buồn nhớ người yêu, nuối tiếc mối tình đầu đẹp đẽ.

b.

– Kiều nhớ tới Kim Trọng, tưởng tượng ra cảnh chàng Kim cũng đang nhớ về mình, mong ngóng mà vẫn bặt tin (Tưởng người dưới nguyệt chén đồng – Tin sương luống những rày trông mai chờ); tâm trạng Kiều đau đớn, xót xa, tủi phận: Bên trời góc bể bơ vơ – Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.

– Kiều nhớ đến cha mẹ, thương cha mẹ ngày ngày tựa cửa ngóng tin con (Xót người tựa cửa hôm mai), ngậm ngùi vì tuổi già trước sự khắc nghiệt của thời gian (Sân Lai cách mấy nắng mưa – Có khi gốc tử đã vừa người ôm), day dứt vì mình không được ở bên để báo đáp công ơn sinh thành (Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ).

c. Kiều đã hi sinh thân mình vì đạo hiếu, khi lâm vào tình cảnh đáng thương, nàng lại một lòng nhớ đến Kim Trọng, nhớ thương cha mẹ, quên cả cảnh ngộ của mình. Trong đoạn trích này, Kiều hiện ra với đức vị tha cao đẹp.


Trả lời câu 3 (trang 96 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng.

a. Cảnh vật ở đây là thực hay hư? Mỗi cảnh vật có nét riêng đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trang Kiều. Em hãy phân tích và chứng minh điều đó.

b. Em có nhận xét gì về cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du trong tám câu thơ cuối? Cách dùng điệp ngữ ấy góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

Lời giải chi tiết:

a. Ở tám câu thơ cuối đoạn trích, Nguyễn Du đã cho thấy một bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng:

– Sắc thái của bức tranh thiên nhiên thể hiện từng trạng thái tình cảm của Thuý Kiều:

+ Nhớ thương cha mẹ, quê hương, cảnh vật là:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

+ Nhớ người yêu, xót xa cho tình duyên lỡ dở, thì cảnh là:

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu.

+ Buồn tủi, đau đớn cho thân mình, thì cảnh là:

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Như vậy, từng chi tiết, hình ảnh khung cảnh thiên nhiên đều mang đậm trạng thái tình cảm của Thuý Kiều. Mỗi cảnh là mỗi tình, song tất cả đều buồn thương, đúng là: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

– Cụm từ Buồn trông lặp lại bốn lần trong tám câu thơ như những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa đến gần, thu hẹp dần vào nội cảm con người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cô đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên. Sóng gió nổi lên như sự báo về những đau khổ ê chề rồi đây sẽ xảy ra đối với Kiều, là dự cảm cho một đoạn đời “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”.


Luyện tập

Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối.

Lời giải chi tiết:

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là nghệ thuật mượn khung cảnh để gửi gắm tâm trạng. Cảnh không chỉ đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh là phương tiện miêu tả còn tâm trạng là mục đích miêu tả.

– Phân tích tám câu cuối:

+ Nhớ thương cha mẹ, quê hương, cảnh vật:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.

+ Nhớ người yêu, xót xa cho tình duyên lỡ dở, thì cảnh:

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu.

+ Buồn tủi, đau đớn cho thân mình, thì cảnh:

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

=> Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua con mắt tâm trạng của Kiều: cảnh từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn của Kiều man mác, mông lung đến lo sợ, kinh hoàng. Có thể nói dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du hình tượng thiên nhiên cùng một lúc đảm nhiệm hai chức năng: thể hiện ngoại cảnh và thể hiện tâm cảnh. Ở chức năng thứ hai, hình tượng thiên nhiên là phương tiện nghệ thuật đặc sắc để miêu tả nội tâm và khắc họa tính cách nhân vật.

Bố cục

Bố cục: 3 đoạn

– Sáu câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn, cay đắng xót xa của Kiều.

– Tám câu tiếp: Nỗi thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều.

– Tám câu cuối: Tâm trạng đau buồn, âu lo của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

ND chính

Cảm nhận được tâm trậng cô đơn, buồn tủi và tấm lòng hiếu thảo của Thúy Kiều.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” số 3


Đôi nét về tác phẩm Kiều ở lầu Ngưng Bích
1. Vị trí đoạn trích
Đoạn trích nằm ở phần thứ hai: Gia biến và lưu lạc. Sau khi bị Mã Giam Sinh lừa gạt, làm nhục, bị Tú Bà mắng nhiếc, Kiều nhất quyết không chịu chấp nhận cuộc sống lầu xanh. Đau đớn, phẫn uất, nàng định tự vẫn, Tú Bà sợ mất vốn bèn lựa lời khuyên giải đưa nàng ra sống riêng ở lầu Ngưng Bích với lời hứa hẹn khi nàng bình phục sẽ gả nàng cho người tử tế nhưng thực chất là giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện và tàn bạo hơn
2. Bố cục
– 6 câu đầu: Hoàn cảnh cô đơn tội nghiệp của Thúy Kiều
– 8 câu tiếp: Nỗi nhớ thương Kim Trọng và nhớ thương cha mẹ của Kiều
– 8 câu cuối: Tâm trạng đau buồn và dự cảm trước tương lai sóng gió
3. Giá trị nội dung
Đoạn trích đã miêu tả chân thực cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi, đáng thương, nỗi nhớ người thân da diết và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo vị tha của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích
4. Giá trị nghệ thuật
Đoạn trích thành công ở nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc với bút pháp tả cảnh ngụ tình được coi là đặc sắc nhất trong Truyện Kiều


Câu 1 – Trang 95 SGK

Em hãy tìm hiểu cảnh thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu:

– Đặc điểm của không gian trước lầu Ngưng Bích (chú ý không gian mở ra theo chiều rộng, chiều xa, chiều cao qua cái nhìn của nhân vật).

– Thời gian qua cảm nhận của Thuý Kiều (chú ý hình ảnh trăng, “mây sớm đèn khuya”).

– Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Thuý Kiều đang ở trong hoàn cảnh, tâm trạng như thế nào ? Từ ngữ nào góp phần diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy ?

Trả lời

– Hai chữ “khoá xuân” cho thấy thực chất là Kiều bị giam lỏng.

– Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng: 2 câu 14 chữ, chữ nào cũng gọi lên sự rợn ngợp của không gian: “Bốn bề bát ngát xa trông”. “Cảnh non xa”, “trăng gần” như gợi lên hình ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi giữa mênh mang trời nước. Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mù mịt, cái lầu chơi vơi một thân phận trơ trọi, không một bóng người, không sự giao lưu giữa người với người.

– Hình ảnh “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng có thể là cảnh thực, có thể là hình ảnh ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm trạng cô đơn của Kiều.

Câu 2 – Trang 95 SGK

Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều:

a) Trong cảnh ngộ của mình nàng đã nhớ tới ai ? Nàng nhớ ai trước, ai sau ? Nhớ như thế có hợp lí không, vì sao ?

b) Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau. Em hãy phân tích nghệ thuật dùng từ ngữ, hình ảnh của tác giả để làm sáng tỏ điều đó.

c) Em có nhận xét gì về tấm lòng Thuý Kiều qua nỗi nhớ thương của nàng ?

Trả lời

Tình trạng cô đơn gần như tuyệt đối này làm dấy lên trong lòng nàng bao nỗi niềm buồn sầu, thương nhớ.

a) Nhớ Kim Trọng

– Thúy Kiều nhớ chàng Kim trước, nhớ cha mẹ sau. Đấy là một minh chứng cho sự cảm thông sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Du đối với nhân vật. Tác giả đã ngợi ca thiên diễm tình tự do yêu đương khi chớm nở và cũng hoàn toàn cảm thông bi kịch tình yêu đổ vỡ, tan nát mà trái tim Thúy Kiều dường như lúc nào cũng rướm máu đau thương.

– Khi ở trú phường, Kiều đã bị nhục, sau đó bị ép ra tiếp khách ở thanh lâu Lâm Tri. Nỗi đau đớn lớn nhất của nàng là tấm son gột rửa bao giờ cho phai. Cho nên Kiều nhớ tới Kim Trọng trước, điều này phù hợp quy luật tâm lí.

– Nhớ tới Kim Trọng, Kiều nhớ tới quãng thời gian hai người từng hạnh phúc bên nhau, nhớ lời thề nguyền. Nàng xót xa khi tưởng tượng chàng Kim mong chờ mình một cách vô vọng. Nàng tưởng tượng ra cảnh chàng Kim cũng đang nhớ về mình, mong ngóng tin mình:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

– Thương người rồi lại thương mình. Tâm trạng Kiều đớn đau, xót xa, tủi phận:

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

b) Nhớ cha mẹ

– Nhớ Kim Trọng là tưởng, nhớ cha mẹ là xót. Thương cha mẹ khi sáng (mai), khi chiều (hôm) tựa cửa ngóng tin nàng. Nàng đau xót vì cha mẹ đã tuổi già sức yếu mà nàng không được gần gũi săn sóc để quạt nồng ấp lạnh.

– Thời gian cứ dần trôi, “cách mấy nắng mưa” vừa chỉ thời gian xa cách đã bao mùa mưa nắng, vừa nói lên sức tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với cảnh vật và con người. Điển cố sân Lai, hình ảnh gốc tử trong Kinh Thị nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Gốc tử cũng vừa người ôm ẩn dụ hình ảnh của cha mẹ ngày thêm già yếu, thể hiện tấm lòng của người con hiếu thảo, thật cảm động và đáng trân trọng.

Câu 3 – Trang 96 SGK

Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng:

a) Cảnh vật ở đây là thực hay hư ? Mỗi cảnh vật có nét riêng đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trạng Kiều. Em hãy phân tích và chứng minh điều đó.

b) Em có nhận xét gì về cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du trong tám câu thơ cuối ? Cách dùng điệp ngữ ấy góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào ?

Trả lời

Cảnh vừa là bức tranh thiên nhiên, vừa là bức tranh tâm trạng. Đoạn tả cảnh quanh lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nghệ thuật miêu tả kết hợp hài hoà giữa ngoại cảnh và tâm cảnh.

Tám câu cuối thể hiện tâm trạng buồn lo của Kiều qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình:

– Diễn tả tâm trạng Kiều, Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Mỗi biểu hiện của cảnh chiều tà bên bờ biển, từ cánh buồm thấp thoáng, cánh “hoa trôi man mác” đến “nội cỏ rầu rầu”, tiếng sóng ầm ầm, đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều: sự cô đơn, thân phận nổi chìm vô định, nỗi buồn tha hương, lòng thương nhớ người yêu, cha mẹ và cả sự bàng hoàng lo sợ. Đúng là cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng Kiều: cảnh từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ. Ngọn gió cuốn mặt duềnh và tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi là cảnh tượng hãi hùng như báo trước dông bão của số phận sẽ nổi lên, xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều. Và, quả thực, ngay sau lúc này, Kiều đã mắc lừa Sở Khanh để rồi phải lâm vào cảnh “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.

Luyện tập
Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối.
Gợi ý
a) Nghệ thuật biểu hiện tâm trạng nhân vật qua ngoại cảnh (tả cảnh ngụ tình)
– Trong đoạn đầu, tác giả lấy cảnh thiên nhiên làm nền cho hoạt động nội tâm của nhân vật.
– Trong đoạn cuối, dùng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ với thiên nhiên để biểu hiện phong phú sắc thái nội tâm của nhân vật.
b) Sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo
– Vận dụng nhuần nhị những thị liệu, điển cố: tin sương, người tựa cửa, quạt nồng ấp lạnh, sân Lai, gốc tử.
– Ngôn ngữ tinh tế (bẽ bàng), đầy màu sắc (cát vàng, bụi hồng), âm thanh đầm ấm).
– Điệp từ và từ láy có giá trị biểu cảm cao: bát ngát, thấp thoáng, man mác, rầu rầu. Cụm từ “buồn trông mở đầu câu thơ sáu chữ, tạo âm hưởng trầm buồn. “Buồn trông đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ và cũng là điệp khúc của tâm trạng.
Tham khảo thêm những bài văn phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Kiều ở lầu Ngưng Bích

Tổng kết
Dựa vào nội dung phần trả lời câu hỏi trên, các bạn cần ghi nhớ:
Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn miêu tả nội tâm nhân vật thành công nhất trong Truyện Kiều, đặc biệt là bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thuỷ chung, hiếu thảo của Thuý Kiều.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” số 4


A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

Kiều ở lầu Ngưng Bích là một đoạn miêu tả nhân vật thành công trong Truyện Kiều, đặc biệt là bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình. Đoạn thơ cho thấy cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều


B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1 (Trang 95 SGK) Em hãy tìm hiểu cảnh thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu

Bài làm:
Đặc điểm không gian và thời gian trước lầu Ngưng Bích
Không gian: lầu Ngưng Bích được mở ra rất nhiều chiều theo cái nhìn của nhân vật từ trên cao xuống.
Chiều cao: trên trời vầng trăng vằng vặc, trăng như gần hơn và với nàng bây giờ chỉ có trăng là bầu bạn.
Chiều rộng: không gian bao la bát ngát, chỉ có những cồn cát im lìm vắng lặng bụi tung mờ mịt, những dãy núi trùng điệp nhấp nhô ẩn trong sương mờ. Không gian mênh mông, hoang vắng, rợn ngợp cô đơn không một bóng người.
Thời gian: từ sáng (mây sớm) đến đêm khuya (đèn khuya) chỉ có một mình nàng thui thủi cô đơn, bẽ bàng thương thân, tủi phận.
Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Kiều đang ở trong hoàn cảnh trơ trợ bị giam hãm, mất tự do, cô độc giữa lầu Ngưng Bích hoang vắng. Tâm trạng của nàng trống trải, cô đơn, ngao ngán thật tội nghiệp…. (những từ ngữ diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy : bẽ bàng, như chia tấm lòng…). Có thể nói nàng đã rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối. Cảnh lầu Ngưng Bích rất hữu tình thơ mộng, nhưng hoang vắng rợn ngợp thiếu hơi ấm con người, đúng như tên gọi của nó, khoá xuân nơi giam hãm tuổi xuân của con người.

Câu 2 (Trang 95 SGK) Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều.
a.Trong cảnh ngộ của mình nàng nhớ tới những ai? Nàng nhớ ai trước, ai sau? Nỗi nhớ có hợp lí không?b. Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau. Em hãy phân tích nghệ thuật dùng từ ngữ, hình ảnh của tác giả để làm sáng tỏ điều đó.c. Em có nhận xét gì về tấm lòng của Thuỷ Kiều qua nỗi nhớ thương của nàng?
Bài làm:
a. Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều. Đầu tiên Kiều nhớ tới Kim Trọng. Trong xã hội phong kiến đề cao chữ hiếu, thế nhưng ở đây Nguyễn Du lại để cho Thuý Kiều nhớ Kim Trọng trước khi nhớ về cha mẹ, điều đó có lí do của nó. Với cha mẹ dẫu sao nàng cũng mới gặp gỡ trước lúc lên đường về với Mã Giám Sinh, thứ nữa hành động bán mình để lấy tiền cứu cha và em của nàng cũng là một phần nào làm nàng yên lòng. Còn đối với Kim Trọng kể từ ngày “ngộ biến” cả hai bên chưa ai nhận được tin gì của nhau. Hơn nữa, nàng cảm thấy mình có lỗi với Kim Trọng bởi vì hoàn cảnh của gia đình mà nàng đã không giữ đúng lời thề hẹn với chàng Kim.

b. Cách thể hiện nỗi nhớ của Kiều rất khác nhau:
Về nỗi nhớ Kim Trọng, nàng nhớ lời thề ước dưới trăng, thương chàng Kim Trọng đêm ngày đau đáu trông chờ uổng công vô ích “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”.
Nàng hình dung cảnh Kim Trọng đợi chờ tin nàng ở quê nhà. Đồng thời cũng thể hiện tấm lòng thuỷ chung:
Chân trời góc bể bơ vơTấm son gột rửa bao giờ cho phai?
Câu thơ là một câu hỏi tu từ thể hiện sự dằn vặt, đau khổ của nàng khi phải chia tay với Kim Trọng. Dù mai sau có phiêu bạt chân trời góc bể nào thì tình cảm của nàng đối với Kim Trọng vẫn nồng thắm, bất biến với không gian và thời gian.
Nỗi nhớ cha mẹ
Nàng thương xót cha mẹ già yêu mà nàng không được chăm sóc. Nàng tưởng tượng cảnh nơi quê nhà tất cả đã đổi thay mà sự đổi thay lớn nhất là cha mẹ ngày một thêm già yếu.
Lần nào khi nhớ về cha mẹ, Kiều cũng “nhớ ơn chín chữ cao sâu” và luôn ân hận mình đã phụ công sinh thành, phụ công nuôi dạy con cái của cha mẹ. Cũng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ lại khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng khác nhau.
Nghệ thuật: trong đoạn trích, tác giả dùng rất nhiều từ ngữ hình ảnh có tính chất ước lệ: chén đồng, tin sương, tấm son, quạt nồng ấp lạnh, sân lai, gốc tử để nói về tình yêu và đạo hiếu. Nhịp thơ đều đều 2/2/2 và 4/4 đã góp phần diễn tả một cách sâu sắc tâm trạng buồn chán của nàng.

c. Như vậy, dù Kiều đã hi sinh thân mình vì đạo hiếu, khi lâm vào tình cảnh đáng thương, nàng lại một lòng nhớ đến Kim Trọng, nhớ thương cha mẹ, quên cả cảnh ngộ của mình. Trong đoạn trích này, Kiều hiện ra với đức hi sinh cao đẹp, một tình yêu thủy chung và lòng hiếu thảo của một người con.

Câu 3 (Trang 96 SGK) Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạngа. Cảnh là thực hay hư? Mỗi cảnh vật có nét riêng đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trạng Kiều. Em hãy phân tích và chứng minh điều đó?b. Em có nhận xét gì về cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du trong tám câu thơ cuối? Cách dùng điệp ngữ ấy góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?
Bài làm:
a. Tám câu thơ cuối đoạn trích, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng:
Cánh buồm nhỏ cuối trời xa xăm vô định như cuộc đời nàng giữa biến đời mênh mông không biết đi đâu về đâu.
Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa?
Cánh hoa bị vùi dập tan tác như cuộc đời nàng đang bị vùi dập bởi sóng gió của cuộc đời.
Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Nội cỏ tàn phai héo úa hay cuộc đời nàng từ nay bắt đầu bước vào chuỗi ngày héo úa tàn phai.
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Mặt duềnh cuộn sóng hay chính là sóng gió cuộc đời đen tối đang bủa vây người con gái nhỏ bé tội nghiệp.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

b.Cụm từ Buồn trông lặp lại bốn lần trong tám câu thơ như những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa đến gần, thu hẹp dần vào nội cảm con người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cô đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên.
Đoạn thơ còn sử dụng rất nhiều từ láy: xa xa, thấp thoáng, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm… Làm cho ý thơ trầm xuống, toả lan ra, như tô điểm thêm cho không gian mờ mịt, xa xăm. Kèm theo mỗi cặp từ láy đó là hình ảnh tăng tiến càng lúc càng dữ dội. Đặc biệt ở câu cuối, tiếng sóng ở đây không vỗ, không đập mà kêu ầm ầm, không đến từ một phía mà bủa vây lấy, mà từ nhiều phía kêu quanh ghế ngồi. Nó gợi lên sự hãi hùng, dự báo về cuộc đời đầy sóng gió đang chờ đợi Kiều ở phía trước.

Luyện tập
Bài tập 1: trang 96 sgk Ngữ Văn 9 tập một

Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối (Buồn trông cửa bể chiều hôm…Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi)
Bài làm:
Bút pháp tả cảnh ngụ tình:
Là bút pháp thông qua việc miêu tả cảnh vật (thiên nhiên, cuộc sống xung quanh) để khắc họa tâm trạng, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật trữ tình.
Cùng với bút pháp chấm phá, bút pháp ước lệ tượng trưng, bút pháp đòn bẩy, lấy tĩnh tả động, lấy động tả tĩnh…đây là một trong những bút pháp đặc trưng, mang đậm dấu ấn của văn học trung đại. Cũng có thể nói, bút pháp tả cảnh ngụ tình là một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công cho tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du.
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình qua tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Hai cầu đầu:
Tả cảnh: Những con thuyền với cánh buồm no căng gió tấp nập qua lại ở cửa biển, dưới chân lầu Ngưng Bích, nơi Kiều bị giam lỏng. Cửa biển thuyền qua, thuyền lại như mắc cửi, những cánh buồm được giương lên cao, gió thổi căng phồng đưa con thuyền lướt trên mặt biền, trong chốc lát đã đi ra xa, cánh buồm chỉ còn thấp thoáng, lúc ẩn, lúc hiện.
Tả tình: Nỗi buồn thương, nỗi nhớ nhà và khao khát được trở về nhà của Kiều. Giờ nàng đã bán thân để cứu cha và em, cũng đã rơi vào tay của những kẻ buôn người, không biết đến bao giờ nàng mới có cơ hội để trở về nhà gặp lại cha mẹ, gặp lại các em, gặp lại cả Kim Trọng – mối tình đầu khắc cốt ghi tâm của mình. Càng nhìn cánh buồm thấp thoáng phía xa cuối tận chân trời, Kiều càng mong mỏi ngày trở về.
Hai câu tiếp:
Tả cảnh: Hình ảnh của dòng nước đổ từ trên cao xuống dưới thấp hay đúng hơn là thác nước tuyệt đẹp như bay từ trên cao sà xuống mặt đất. Theo dòng nước ấy là những cánh hoa trôi từ phía thượng nguồn đổ về.
Tả tình: Kiều xót thương cho số phận của mình. Nàng nghĩ mình cũng giống như những cánh hoa kia, đẹp đấy, ngát hương và tài năng đấy nhưng dòng nước dữ dội kia – chính là dòng đời, không biết sẽ mang theo nàng về nơi nào. Bởi lẽ, cuộc đời của nàng bây giờ không còn được quyết định bởi nàng nữa, nó phụ thuộc vào những kẻ buôn người, là Tú Bà, là Mã GIám Sinh.
Hai câu tiếp
Tả cảnh: Cánh đồng cỏ ngút ngàn trải dài đến tận cuối con đường nhưng không còn là đồng cỏ tràn đầy sức sống như trong tiết thanh minh “cỏ non xanh tận chân trời” nữa, mà thay vào đó là một đồng cỏ đang ở độ úa tàn khi tiết trời đang chuyển dần từ thu sang đông.
Tả tình: Nỗi buồn rầu, đau khổ của Kiều khi biết mình bị lừa bán vào tay những kẻ buôn người. Nỗi sầu ấy thấm vào cảnh vật khiến chúng cũng trở nên tàn tạ, héo úa.
Hai câu cuối:
Tả cảnh: Những con gió lớn làm cuộn dòng nước tạo thành những con sóng liên tiếp nhau tấp vào bờ khiến Kiều cảm giác như những con sóng dữ dội ấy đang vỗ mạnh vào ghế, nơi nàng đang ngồi nhìn ngắm cảnh vật xung quanh.
Tả tình: Sự lo lắng cho thân phận của mình trước những sóng gió của cuộc đời đang chuẩn bị ập đến với nàng mà không một lời dự báo trước. Nàng thấp thỏm không yên khi nghĩ đến tương lai, những ngày tháng sau này nàng không biết sẽ có điều gì đón đợi mình ở đó. Chỉ mong được bình yên.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” số 5


I. Tìm hiểu chung về đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều)

1. Tác phẩm

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc) của tác phẩm. Sau khi biết mình bị lừa bán vào lầu xanh, Kiều uất ức định tử tử. Tú Bà giam lỏng nàng ở Lầu Ngưng Bích để thực hiện âm mưu mới.

2. Bố cục tác phẩm

Phần 1: 6 câu thơ đầu
Nội dung: Miêu tả cảnh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích
Phần 2: 8 câu thơ tiếp theo
Nội dung: Thể thiện tâm trạng của Kiều đối với Kim Trọng và bố mẹ mình
Phần 3: 8 câu thơ cuối
Nội dung: Tâm trạng buồn bã, sầu thảm của Thúy Kiều thể hiện qua bức tranh thiên nhiên.


II. Hướng dẫn soạn bài

1. Câu 1 trang 95 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Tìm hiều cảnh thiên nhiên trong 6 câu thơ đầu

Đặc điểm của không gian trước lầu Ngưng Bích: Trong sáu câu thơ đầu trong đoạn trích, không gian được tái hiện qua sự cảm nhận và qua con mắt của nhân vật. Sự mênh mông, hoang văng của đất trời “bốn bề bát ngát xa trông” nhưng chỉ thấy sự núi cao, non xa, cát vàng, cồn nọ,…
Thời gian qua sự cảm nhận của Thúy Kiều được tác giả thể hiện qua hình ảnh “mây sớm đèn khuya”, một vòng tròn về thời gian được lặp đi, lặp lại, ngày và đêm cứ nối tiếp nhau tạo ra một sự bế tắc nhàm chán.
Qua khung cảnh thiên nhiên ấy ta có thể thấy Thúy Kiều đang ở trong hoàn cảnh vô cùng đáng thương, bị giam hãm mất tự do. Tâm trạng của nàng cô đơn, buồn tủi, nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương, … ngao ngán đến cùng cực.


2. Câu 2 trang 95SGK Ngữ văn 9 tập 1

Tám câu thơ tiếp theo nói lên nỗi nhớ thương của Kiều

a) Trong hoàn cảnh và cảnh ngộ của mình nàng đã nhớ tới Kim Trọng đầu tiên. Điều này là vô cùng hợp lý, nó phù hợp với hoàn cảnh và tâm lý của một người con gái và qua đó cho ta thấy được sự tài tình và tinh tế của Nguyễn Du. Nhớ Kim Trọng, nàng nhớ tới đêm thề ước dưới trăng, thương chàng đang ngóng trông, mòn mỏi chờ đợi trong vô vọng. Tiếp đến, nàng nhớ đến cha mẹ mình, tuổi đã già mà không có ai chăm sóc. Nàng nghĩ về cha mẹ tóc đã bạc, tuổi đã cao mà vẫn lo lắng, mong ngóng cho mình nơi quê nhà mà càng thêm đau xót.

b) Để thể hiện nỗi nhớ và tâm trạng của Thúy Kiều, tác giả đã sử dụng những từ ngữ và hình ảnh vô cùng tinh tế và sâu sắc. Tác giả đã sử dụng những thành ngữ như “quạt nồng ấp lạnh” hay cụm từ “cách mấy nắng mưa” để nói lên nỗi băn khoăn và lo lắng của Thúy Kiều khi nhớ về cha mẹ mình. Đồng thời tác giả cũng sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ “chén đồng, tin sương, tấm son, quạt nồng ấp lạnh, sân lai, gốc tử…,” để nói lên tâm trạng đau đớn và buồn thương đối với Kim Trọng.

c) Qua những nỗi nhớ của nàng ta thấy được Thúy Kiều là một người yêu chung thủy, một người con hết lòng hiếu thảo với cha mẹ. Dù trong hoàn cảnh trớ trêu, khó khăn nhất nàng vẫn hướng lòng mình về những người thân yêu mà quên đi sự vất vả và hoàn cảnh của bản thân mình.

3. Câu 3 trang 96 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng

a) Cảnh vật ở trong đoạn trích là hư ảo, là tâm trạng của nhân vật chứ không phải cảnh thực. Cảnh vật hay chính là tâm trạng, nỗi lòng của nhân vật. Mỗi một nét vẽ là một sắc thải cảm xúc của Thúy Kiều.

Nàng nhìn cảnh buồm thấp thoáng xa xa, vô định trong dòng nước như chính cuộc đời nàng giữa dòng đời trôi nổi
“Ngọn nước mới sa:, “hoa trôi man mác biết là về đâu” hay chính là thân phận của nàng, chìm nổi lênh đênh, nàng không biết cuộc đời mình sẽ đi đâu về đâu giữa ngọn nước nổi trôi của cuộc đời
Trong cảnh hoa trôi man mác trên ngọn nước mà buồn đau cho số phận mình tan tác trôi giạt, vô định. Trong nội cỏ dầu dầu giữa màu xanh bao la của trời đất mà thương cho cuộc đời của chính mình đang héo hắt tàn lụi mà không có cách nào thay đổi được.
Nàng nghe tiếng gió, tiếng sóng kêu hay đó chính là tiếng lòng của nàng đang kêu cứu giữa dòng đời đang muốn vùi dập nàng. Nàng hãi hùng, lo sợ những tai họa đang bủa vây lấy mình.
b) Cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du qua tám câu thơ cuối “Buồn trông” nó mở ra một tâm trạng đau thương của nhân vật, nỗi buồn của nàng như bao trùm lên toàn bộ không gian và thời gian.

III. Luyện tập

1. Câu 1 trang 96 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là biện pháp nghệ thuật mượn cảnh vật để nói lên tâm trạng của nhân vật. Qua đó gửi gắm tâm tư, tình cảm của nhân vật hay tình cảm của chính tác giả.

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối

Cánh buồm nhỏ xa xăm vô định thể hiện cho chính cuộc đời Thúy Kiều đang chìm nổ giữa dòng đời.
Cánh hoa bị vùi dập hay nói về số kiếp trôi nổi của nàng, không thể định đoạt được, nàng mặc kệ cho cuộc đời.
Nội cỏ rầu rầu một màu đơn điệu như màu sắc cuộc đời tẻ nhạt mà nàng đang chịu đựng.
Gió cuốn, sóng ầm ầm chính là dông tổ cuộc đời, tiếng lòng của chính nàng đang kêu cứu, đang sợ hãi trước những tai họa, hiểm nguy có thể tới bất cứ lúc nào.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài soạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” số 6


Câu 1. Em hãy tìm hiểu cảnh thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu:

– Đặc điểm của không gian trước lầu Ngưng Bích (chú ý không gian mở ra theo chiều rộng, chiều xa, chiều cao qua cái nhìn của nhân vật).

– Thời gian qua cảm nhận của Thúy Kiều (chú ý hình ảnh trăng, “mây sớm đèn khuya”).

– Qua khung cảnh thiên nhiên có thể thấy Thúy Kiều đang ở trong hoàn cảnh, tâm trạng như thế nào? Từ ngữ nào góp phần diễn tả hoàn cảnh và tâm trạng ấy?

Trả lời:

Tình cảnh thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu:

– Không gian: Thoáng đãng, mênh mông, bát ngát với gang màu dịu mát, tươi sáng nhưng buồn vắng, không gian ấy chỉ có thiên nhiên ngự trị.

– Thời gian: Dằng dặc khép kín, Kiều chỉ biết làm bạn với “mây sớm, đèn khuya”.

→ Bức tranh thiên nhiên phản chiếu tình cảnh cô đơn, lẻ loi, chơi vơi vô cùng của Kiều cùng với tâm trạng buồn, ngổn ngang trăm mỗi tơ vò, bơ vơ nơi đất khách quê người. Tâm trạng ấy được Nguyễn Du khắc họa qua các từ ngữ chọn lọn: bẽ bàng mây sớm đèn khuya, nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng….

Câu 2. Tám câu thơ tiếp theo trực tiếp nói lên nỗi nhớ thương của Kiều.

a) Trong cảnh ngộ của mình nàng đã nhớ tới ai? Nàng nhớ ai trước, ai sau? Nhớ như thế có hợp lí không, vì sao?

b) Cùng là nỗi nhớ nhưng lại là cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên thể hiện cũng khác nhau. Em hãy phân tích việc dùng từ ngữ, hình ảnh của tác giả để làm sáng tỏ điều đó.

c) Em có nhận xét gì về tấm lòng Thúy Kiều qua nỗi nhớ thương của nàng?

Trả lời:

– Trong cảnh ngộ của mình, Thúy Kiều đã nhớ đến Kim Trọng và cha mẹ. Người đầu tiên mà Kiều nhớ đến là Kim Trọng. Điều này là hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí con người và thái độ nâng niu, trân trọng với mối tình Kim – Kiều của tác giả.

– Với ngôn ngữ độc thoại nội tâm, sử dụng những điển tích điển cố, hình ảnh ước lệ Nguyễn Du đã miêu tả cụ thể nỗi nhớ của Thúy Kiều:

* Nhớ Kim Trọng:

+ Kiều nhớ lại lời thề xưa với nỗi lòng day dứt.

+ Thương Kim Trọng đang uổng công mong chờ.

+ Nghĩ tới thân phận: bơ vơ, lưu lạc không biết bao giờ có thể nguôi nhớ chàng.

* Nhớ cha mẹ:

+ Kiều xót xa khi nghĩ cảnh cha mẹ già ngày đêm ngóng đợi tin con.

+ Băn khoăn, không biết ai là người thay nàng chăm sóc mẹ già, nhất là khi trái nắng trở trời.

+ Lo lắng cho sức khỏe của cha mẹ ngày một yếu hơn.

→ Tình cảm thành kính nhớ thương tới cha mẹ.

⇒ Qua đó chúng ta có thể thấy, Kiều là một người giàu tình yêu thương, giàu đức hi sinh. Bản thân nàng phải ghánh chịu nhiều đau khổ nhưng nàng luôn nghĩ đến người khác: nhớ thương người yêu, lo lắng hiếu thảo vẹn toàn cha mẹ.

Câu 3. Tám câu thơ cuối miêu tả cảnh vật qua tâm trạng.

a) Cảnh là thực hay hư? Mỗi cảnh vật có nét riêng đồng thời lại có nét chung để diễn tả tâm trạng Kiều. Em hãy phân tích và chứng minh điều đó.

b) Em có nhận xét gì về cách dùng điệp ngữ của Nguyễn Du trong tám câu thơ cuối? Cách dùng điệp ngữ ấy góp phần diễn tả tâm trạng như thế nào?

Trả lời:

a) Tám câu thơ cuối đoạn trích, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Cảnh vật được miêu tả qua tâm trạng, tâm trạng nhuốm lên cảnh vật, cảnh vật thể hiện tâm trạng:

Cánh buồm nhỏ cuối trời xa xăm vô định như cuộc đời nàng giữa biến đời mênh mông không biết đi đâu về đâu.Buồn trông cửa bể chiều hômThuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa?

Cánh hoa bị vùi dập tan tác như cuộc đời nàng đang bị vùi dập bởi sóng gió của cuộc đời.Buồn trông ngọn nước mới sa,Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Nội cỏ tàn phai héo úa hay cuộc đời nàng từ nay bắt đầu bước vào chuỗi ngày héo úa tàn phai.Buồn trông nội cỏ rầu rầu,Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Mặt duềnh cuộn sóng hay chính là sóng gió cuộc đời đen tối đang bủa vây người con gái nhỏ bé tội nghiệp.Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

b)

Cụm từ Buồn trông lặp lại bốn lần trong tám câu thơ như những đợt sóng lòng trùng điệp, càng khiến nỗi buồn dằng dặc, mênh mông, kết hợp với cái nhìn từ xa đến gần, thu hẹp dần vào nội cảm con người để đến cuối đoạn thì tâm trạng cô đơn, sầu nhớ, cảm giác đau đớn trào lên.Đoạn thơ còn sử dụng rất nhiều từ láy: xa xa, thấp thoáng, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm… Làm cho ý thơ trầm xuống, toả lan ra, như tô điểm thêm cho không gian mờ mịt, xa xăm. Kèm theo mỗi cặp từ láy đó là hình ảnh tăng tiến càng lúc càng dữ dội. Đặc biệt ở câu cuối, tiếng sóng ở đây không vỗ, không đập mà kêu ầm ầm, không đến từ một phía mà bủa vây lấy, mà từ nhiều phía kêu quanh ghế ngồi. Nó gợi lên sự hãi hùng, dự báo về cuộc đời đầy sóng gió đang chờ đợi Kiều ở phía trước.

Luyện tập

Câu 1. Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối (“Buồn trông cửa bể chiều hôm… Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”).

Trả lời:

Tả cảnh ngụ tình là nghệ thuật miêu tả cảnh vật để qua đó bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật.

Tám câu thơ cuối bài Kiều ở lầu Ngưng Bích được viết theo nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc, thông qua từng quang cảnh lầu Ngưng Bích lúc chiều tà Nguyễn Du khắc họa một cách sinh động tâm trạng buồn đau của nhân vật:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

……………………

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”.

Điệp ngữ “Buồn trông…” mở đầu tất cả câu sáu chữ, lặp lại bốn lần mở ra bốn cánh buồm, tạo nên âm điệu trầm buồn, da diết. Nỗi buồn trong lòng người đã nhuốm vào cảnh vật, Kiều nhìn về phía nào cũng chỉ thấy không gian sóng nước mênh mang, rợn ngợp. Nàng nhìn cánh buồm thấp thoáng thì băn khoăn, chạnh lòng nghĩ đến hành trình lưu lạc và da diết nỗi nhớ gia đình, khao khát trở về đoàn tụ. Hay chỉ với một cánh hoa trôi theo dòng thác đổ, Kiều lo lắng thân phận vùi dập của mình không biết trôi dạt về đâu. Màu cỏ xanh bao la đất trời khiến nàng buồn, tuyệt vọng, tẻ nhạt không biết kéo dài đến bao giờ. Đặc biệt , hình ảnh thiên nhiên dữ dội “gió cuốn mặt duềnh” và âm thanh của tiếng sóng “kêu quanh ghế ngồi” khiến Thúy Kiều cảm thấy kinh sợ, hãi hùng trước bão tố cuộc đời đang bủa vât, ập xuống. Mỗi cảnh hiện lên như một ẩn dụ tương trưng cho nỗi nét khổ đau cho số phận Kiều.Buồn trông đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ đồng thời cũng là điệpkhúc của tâm trạng. Đoạn thơ xứng đáng áng tả cảnh ngụ tình tuyệt bút.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button