Top 10 mẫu phân tích 13 câu đầu bài Vội vàng siêu hay

Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã của Xuân Diệu để thấy được khao khát sống mãnh liệt, niềm yêu tự nhiên thâm thúy của tác giả trong cuộc sống. Sau đây là dàn ý phân tách 13 câu đầu bài Vội vã cùng mẫu phân tách 13 câu đầu bài Vội vã hay thâm thúy sẽ là tài liệu học tập hữu dụng cho các bạn.

  • Top 7 mẫu cảm nhận bài thơ Vội vã hay nhất
  • Top 6 bài phân tách bài thơ Vội vã siêu hay

Vội vã là tác phẩm điển hình cho cá tính thơ của Xuân Diệu, tác phẩm được trích từ tập Thơ Thơ (đây là tập thơ đầu tay của Xuân Diệu). Vội vã như 1 lời thúc giục của 1 tâm hồn trẻ dạt dào mến thương, khao khát sống và ham mê cuộc đời mãnh liệt.

Chỉ với 13 câu đầu bài Vội vã, Xuân Diệu đã cho người đọc cảm thu được tình mến thương khẩn thiết nơi trần giới, làm sống dậy những nét lôi cuốn, vẻ đẹp diệu kì của tự nhiên. Trong bài viết Hoatieu xin san sẻ bài văn phân tách 13 câu đầu bài Vội vã, cảm nhận 13 câu đầu bài Vội vã hay và cụ thể để độc giả thông suốt hơn về nội dung và nghệ thuật 13 câu đầu Vội vã.

1. Dàn ý bài phân tách 13 câu đầu bài Vội vã

a. Mở bài

– Sơ lược về tác giả Xuân Diệu

– Dẫn vào phân tách 13 câu thơ đầu của Vội vã

b. Thân bài:

4 câu thơ đầu: Nhưng khát khao lạ đời cùng 2 cái “tôi’ của Xuân Diệu.

– Muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để lưu giữ cho cuộc đời những gì cuốn hút nhất, tinh thần được sự quý giá, vẻ đẹp của nắng xuân của hương hoa cỏ.

– Sự hiện ra của cái tôi ngông cuồng, thử thách cả vũ trụ hòa quyện với cái tôi hồn nhiên, yêu đời đem lại 1 hồn thơ Xuân Diệu rất riêng.

Bức tranh tự nhiên mùa xuân:

Nhà thơ cảm nhận mùa xuân phê chuẩn nhiều cảm quan, để đưa ra những nét vẽ chân thật và chân thật và cũng có 1 sự logic nhất mực.

– Điệp khúc “Này đây…” khiến người độc liên tưởng tới 1 khúc ca say đắm, vui mừng.

– Bức tranh mùa xuân của Xuân Diệu được gợi lên từ những cảnh sắc cực kỳ phổ biến nhưng mà lại mang vẻ đẹp tràn ngập nhựa sống:

+ Hình ảnh ong, bướm cùng mật ngọt, gam màu đặc sắc của muôn loài hoa liên kết với cái màu xanh biếc tươi mới của đồng nội cỏ, sự mềm mại uyển chuyển của “cành tơ phất phơ”, sự rộn ràng, mê ly trong “khúc tình si” của cặp yến oanh.

+ “ánh sáng chớp hàng mi” khiến người đọc có nhiều liên tưởng về 1 thứ ánh sáng tuyệt diệu, dịu dàng bao trùm khắp ko gian.

Bức tranh tuổi xanh, tình yêu:

– Mỗi sự vật trong bức tranh mùa xuân của Xuân Diệu đều có đôi có cặp: ong đi với bướm say đắm ngọt ngào, trẻ trung trong “tuần tháng mật”, hoa hòa quyện với đồng nội đem lại cảm giác tình yêu phóng khoáng và thấu hiểu, chứa chan sức xuân, lá đi với “cành tơ phất phơ” trình bày tình yêu lôi cuốn, mềm mại và thướt tha, yến oanh là mối tình chung tình, gắn bó với “khúc tình si”

– “Ánh sáng chớp hàng mi”: Gợi liên tưởng tới hình ảnh thanh nữ khép hờ mắt dưới ánh nắng sớm mai, mang dáng vẻ hình hài trẻ trung, son sắc là niềm ham mê của thi sĩ.

– Tình yêu ko chỉ nằm trong phạm vi tình yêu 5 nữ nhưng mà còn trình bày ở cả tình yêu với tự nhiên, với cuộc đời nhưng mà Xuân Diệu xúc động viết “Tháng Giêng ngon như 1 cặp môi hồng”, trình bày nỗi khao khát cháy bỏng với mùa xuân, với tuổi xanh.

c. Kết bài:

Nêu cảm nhận tư nhân.

2. Dàn ý bài phân tách 13 câu đầu bài Vội vã cụ thể

a) Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

Xuân Diệu là thi sĩ của mùa xuân, tình yêu và tuổi xanh, 1 trong những thi sĩ bự của Việt Nam nổi danh từ phong trào Thơ mới.

“Vội vã” là 1 trong những bài thơ hoàn hảo nhất trình bày tình yêu cuộc sống thiết tha, quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu.

– Khái quát nội dung 13 câu đầu Vội vã : Ước vọng táo tợn cùng tâm cảnh hoan hỉ chào đón nhưng mà rồi lại vội vã và rối rít trước sự lưu loát của thời kì.

b) Thân bài:

* Luận điểm 1: Khao khát lưu giữ vẻ đẹp của tự nhiên

– Trong thơ ca trung đại ít có thi sĩ nào dám khẳng định cái tôi tư nhân của mình 1 cách táo tợn nhưng mà lúc tới với phong trào Thơ mới, cái tôi Xuân Diệu đã biểu thị 1 cách cực kỳ lạ mắt:

“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”.

Mùa xuân là mùa tươi cuốn hút nhất trong 5 cũng như tuổi xanh là khoảng thời kì cuốn hút nhất trong cuộc đời mỗi con người.

4 dòng thơ ngũ ngôn như lời đề từ của bài thơ, khẳng định ước vọng đoạt quyền tạo hóa của thi nhân.

“Nắng” mùa xuân là ánh sáng đặc sắc, ấm áp và tươi vui, “hương” mùa xuân là nơi tinh hoa của đất trời, của vạn vật kết tinh, tụ hội.

Hành động “tắt nắng”, “buộc gió” là những mong muốn hình như ko tài nào tiến hành được bởi lẽ nó đi trái lại với những quy luật vốn có của thiên nhiên.

– Xuân Diệu muốn ngăn cản bước đi của thời kì để lưu giữ những phút giây cuốn hút nhất, đáng nhớ nhất.

Thi sĩ khát khao giữ lại ánh nắng để “màu đừng nhạt mất”, giữ lại gió để cuộc sống luôn tràn trề sắc hương.

Điệp cấu trúc “Tôi muốn… để”, động từ mạnh “tắt”, “buộc” cộng với nhịp thơ nhanh, dập dồn, trình bày khát khao mãnh liệt, lập cập, muốn mau chóng ko để những vẻ đẹp tạo hóa vụt mất khỏi tầm tay.

Nếu thời kì đi bằng nắng, bằng gió làm nhạt màu, làm phai hương thì thi sĩ muốn níu giữ thời kì dừng bước, để màu sắc và hương thơm còn mãi với cuộc đời, để giữ mãi thời tươi xuân thì của tạo vật.

Cũng do đó, khát khao này cũng trình bày sự ham sống xốc nổi tới mãnh liệt và quan niệm về thời kì của ông: Thời gian tuyến tính 1 chiều, lúc đã trôi qua rồi thì ko quay về nên thi sĩ có khát khao giữ nắng, giữ gió để hưởng thụ hết vẻ đẹp của đất trời.

=> Đấy là ước vọng bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vì đóa hoa hương sắc cuộc đời tươi thắm, ngọt ngào nhưng mà mỏng manh, ngắn ngủi biết bao. Có thể nói đằng sau ước vọng bất hợp lí đấy là 1 tâm hồn yêu người với thái độ trân trọng, nâng niu và giữ giàng.

* Luận điểm 2: Bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp

– Từ thể thơ 4 chữ, thi sĩ chuyển sang những câu thơ 8 chữ, nhịp thơ như trải tỏ ra, chậm chạp, nhẹ nhõm như nhịp tâm hồn nhà thơ đang hưởng thụ những tinh hoa của đất trời mùa xuân

– Điệp ngữ “này đây” được lặp đi lặp lại 5 lần như 1 lời mời gọi, liên kết với thủ pháp liệt kê, vừa diễn đạt sự sang giàu, phong phú vô tận của tự nhiên vừa trình bày cảm giác hoan hỉ, vui sướng của tác giả.

– “Này đây” là sự hiện hữu của hương sắc cuộc đời, của tự nhiên trần giới, không hề xa xăm nhưng mà gần gụi ngay trước mắt, không hề ở ngày mai hay dĩ vãng nhưng mà ngay trong hiện nay khi này.

– Điệp từ “của” lặp lại mang thuộc tính kết nối khiến cho bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới tuần tự xuất hiện, lại thêm phần phong phú, sang giàu.

– Nhà thơ sử dụng 1 loạt giải pháp tu từ nhân hoá, dùng những danh từ thuộc về con người (“tuần tháng mật”, “khúc tình si”) để mô tả tự nhiên, liên kết với “bướm ong”, “yến oanh” được gọi tên như đôi như lứa làm cho vườn xuân bỗng đầy mơ mộng, lãng mạn, vườn xuân cũng là vườn yêu, vườn tình, vườn ân ái hạnh phúc.

– Tính từ “xanh biếc”, “phất phơ” giàu sức gợi tả vẽ nên cảnh tự nhiên mùa xuân non tơ, chứa chan nhựa sống

=> Bức tranh xuân ko chỉ có cảnh vật xinh tươi nhưng mà còn chứa chan ánh sáng và thú vui, hình ảnh “ánh sáng chớp hàng mi” và “thần vui” cực kỳ gợi cảm. Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được chiêm ngưỡng ánh dương, được hưởng thụ sắc hương của vạn vật là 1 ngày hoan hỉ vui sướng

– Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn rã, mải mê trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngây ngất hưởng thụ, để thi nhân tạo hóa thành nhân tình:

“Tháng Giêng non như 1 cặp môi gần”

Câu thơ sử dụng nghệ thuật ẩn biến đổi cảm giác, hay chính là phép giao thoa nhưng mà thơ Mới tiếp nhận được từ thơ ca biểu tượng Pháp
Đây là câu thơ mới mẻ nhất, tiên tiến nhất, đã nói chung được sự quyến rũ của mùa xuân bằng sự so sánh cực kỳ lạ mắt. Nhà thơ cảm thụ tự nhiên bằng tình đôi lứa, bằng thân xác và tâm hồn.

– Sự quyến rũ của tự nhiên xuất hiện trong vẻ đẹp của người yêu với “cặp môi gần” căng tràn tươi trẻ, mê đắm và lôi cuốn.

Từ “ngon” được thốt lên đầy khao khát, và ham mê, là sự cảm nhận sâu nhất bằng mọi cảm quan

Phép so sánh như đã đưa cặp môi của người thanh nữ biến thành trung tâm của vũ trụ, con người biến thành chuẩn mực cho cái đẹp, là thước đo vẻ đẹp của tạo hóa.

“Tháng giêng” là 1 định nghĩa thời kì vốn vô hình, nhưng mà trong phép so sánh vừa táo tợn vừa mang sắc thái biểu cảm đấy đã phát triển thành trẻ trung hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi gần của người thanh nữ.

=> Nhà thơ đã trình bày quan niệm của mình 1 cách thật thâm thúy: Nếu trong thơ ca Trung đại, các thi nhân lấy tự nhiên để làm chuẩn mực cho cái đẹp của con người thì tới với Xuân Diệu, con người mới là chuẩn mực cho mọi cái đẹp còn đó trên cuộc đời này, và thiên đàng không hề là những chốn thiên thai xa xăm, mê hoặc nào ấy, nhưng mà chính là nơi đây, chính mặt đất trần giới mới là thiên đàng của tình yêu, của cái đẹp và của tuổi xanh.

* Luận điểm 3: Tâm cảnh của nhà thơ

– Ngay khi chàng nhà thơ trẻ đang ngây ngất mê đắm cực kỳ trong niềm hưởng thụ mật ngọt tình yêu nơi thiên đàng trần giới, đang thỏa thuê với bữa tiệc bự của nhân gian và reo lên “tôi phấn kích” thì cũng chính là khi thi nhân dừng lặng với cảm giác “vội vã 1 nửa”.

– Câu thơ bị ngắt làm 2, thú vui ko toàn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhìn thấy rằng điều phấn kích đấy ngắn ngủi biết bao. Dự cảm mơ hồ về sự mỏng manh, ngắn ngủi của kiếp người đã làm cho thi nhân sống vội vã hưởng thụ.

=> Hai câu thơ được xem như 2 cái bản lề khép mở tâm cảnh vừa nhiệt tình say đắm vẻ đẹp của cuộc sống tình yêu vừa là linh tính bất an, băn khoăn đau buồn của thi sĩ vì thời kì qua mau, tuổi xanh 1 đi ko quay về, quả thực Xuân Diệu là thi sĩ của những giác quan tinh tế về thời kì.

c) Kết bài

Khái quát lại nội dung 13 câu thơ đầu Vội vã.

Nêu cảm nhận của em.

3. Lược đồ tư duy phân tách 13 câu đầu bài Vội vã

4. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 1

Nhà thơ Thế Lữ đã từng có nhận xét khá tinh tế về Xuân Diệu: “Xuân Diệu là 1 người của đời, 1 người hầu giữa nhân loại. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của 1 tấm lòng nhân gian”. Có thể nói, Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam một “bộ y phục tối tân”, táo 3̣o, một “cảm hứng dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Cứ mỗi độ xuân về, trái tim non của những thế hệ trẻ lại rung lên với cảm xúc yêu đời tha thiết, mãnh liệt trước lời ru yêu đời mà thấm thía của Xuân Diệu. Một trong những lời ru yêu đời thấm thía ấy được gửi gắm qua tác phẩm “Vội vàng” – một 3̀i thơ tiêu biểu cho phong cách thơ độc đáo của Xuân Diệu. Cả 3̀i thơ là niềm yêu đời mãnh liệt, lòng ham sống đến bồng bột, cuồng nhiệt. Đến với 13 câu đầu trong “Vội vàng”, chúng ta sẽ thấy rõ được ước muốn táo 3̣o, kì lạ của thi sĩ và bức tranh xuân – vẻ đẹp thiên đường trên mặt đất.

Rút ra từ tập “Thơ thơ”, Vội vàng là thi phẩm kết tinh vẻ đẹp hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8. Mở đầu 3̀i thơ là khổ thơ ngũ ngôn thể hiện ước muốn cháy bỏng của thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đi
màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi

Câu thơ ngắn, nhịp thơ nhanh liên tiếp các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc, khổ thơ như khúc ca sôi nổi, ham mê về những ước muốn khát khao cất lên từ trái tim của thi sĩ. Muốn tắt nắng, muốn buộc gió để màu đừng nhạt, hương đừng phai, nghĩa là Xuân Diệu muốn níu giữ mãi hương thơm sắc thắm, muốn bất tử hóa vẻ đẹp mùa xuân nơi trần thế. Nghĩa là Xuân Diệu muốn mãi mãi một mùa xuân tuyệt vời. Ham muốn, khát vọng của thi sĩ thật vô cùng lãng mạn. Phải là một hồn thơ yêu đời ham sống mãnh liệt đến vô bờ mới có những ham muốn bồng bột, táo 3̣o ấy.

Là một nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời, ham mê cuộc đời bằng một niềm yêu đời mãnh liệt, bằng cặp mắt xanh non biếc rờn, ngơ ngác và đầy vui sướng, Xuân Diệu đã phát hiện ra bao vẻ đẹp đáng yêu, đáng say đắm của tự nhiên và cuộc sống con người nơi trần thế mà đẹp nhất, vui nhất, lộng lẫy nhất chính là mùa xuân và tuổi trẻ:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cưa
Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần!

Từ những câu thơ ngũ ngôn ngắn gọn, khúc thơ bất ngờ chuyển sang những câu thơ tám chữ liền mạch với hàng loạt biện pháp nghệ thuật đặc sắc: điệp từ, điệp ngữ, lặp cấu trúc, liệt kê, so sánh. Âm điệu thơ sôi nổi, háo hức cuồn cuộn như dòng thác dâng trào. Phép liệt kê và điệp ngữ “này đây” lặp lại liên tiếp trong 5 câu thơ vừa gợi cái từng bừng rạo rực của tự nhiên vừa diễn tả niềm hoan hỉ, vui sướng tột độ của thi sĩ. Điệu thơ như tiếng rao vu, ngỡ ngàng sung sướng. Có cái gì như vội vàng quấn quýt, có cái gì như đắm đuối mê say. Nhà thơ như muốn nói trong cử chỉ vội vàng, trong nhịp điệu dồn dập rằng: Mọi vẻ đẹp tuyệt vời kì diệu của mùa xuân và sự sống là của chúng ta đang trong vòng tay ta, lại còn chần chừ gì nữa mà ko mau tận hưởng.

Với nhiều người, mùa xuân là mùa tuyệt diệu nhất trong 5. Bởi thế có cả một dòng xuân bất tận và quyến rũ trong thơ ca. Có thể kể ra đây “Cảnh ngày xuân” trong Truyện Kiều (Nguyễn Du), Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Mưa xuân (Nguyễn Bính), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) nhưng mà hiếm có mùa nào lộng lẫy sắc hương và rạo rực xuân tình như mảnh vườn xuân trong “Vội vàng” của Xuân Diệu. Và cũng hiếm có thi sĩ nào ham mê, đắm đuối vẻ đẹp mùa xuân như Xuân Diệu. Mùa xuân hiện ra với những thảm cỏ biếc rời mơn mởn, lá non cành tơ phơ phất, hoa nõn nà khoe sắc dâng hương, trao mật ngọt ong bướm đắm say, ái ân tình tự giữa tuần tháng mật, yến anh quấn quýt bên nhau cùng cất lên khúc tình say đắm. Và mỗi sớm sớm mai của mùa xuân mới thật lộng lẫy quyến rũ:

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa

Trong trí óc non nớt thơ ngây của trẻ con, bình minh là lúc ông mặt trời thức dậy vén màn mây bước ra nhoẻn miệng cười thật tươi. Con trong hình dung của Xuân Diệu – nhà thơ lãng mạn mới nhất trong các nhà thơ mới, bình minh là lúc nữ thần mặt trời choàng tỉnh dậy sau giấc mộng êm đềm chớp chớp hàng mi. Muôn ngàn tia sáng lung linh huyền ảo từ đôi mắt ấy buông lớn̉a xuống trần gian tưới nhựa sống dào dạt cho muôn loài, trao niềm vui, gõ cửa mỗi nhà. Thế mới hiểu những khát khao của Xuân Diệu là đúng:

“Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất”

Hoặc có lúc ông khát khao tới cháy bỏng:

“Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hai tay 9 móng bám vào đời”

Với Xuân Diệu, mỗi ngày sống là một ngày vui, mỗi mùa xuân là một mùa vui bất tận. Không phải đây là lần đầu tiên và duy nhất, vẻ đẹp của ánh sáng hiện ra lộng lẫy và kiêu sa như vậy. Trong “Trường ca” và “Rạo rực”, Xuân Diệu cũng lấy vẻ đẹp của người thiếu nữ để ví von, so sánh như thế:

Mi của ánh sáng thật dài, tia của ánh sáng thật đẹp

(Trường ca)

Mặt trời vừa mới cưới trời xanh
Duyên đẹp bữa nay đã tốt lành
Son sẻ trời như mười sáu tuổi
Má hồng phơn phớt mắt long lanh

(Rạo rực)

Cách cảm nhận vẻ đẹp của ánh mặt trời mùa xuân thật lạ, thật gợi cảm nhưng mà lại nhất phải kể đến hình ảnh ”Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Có thể nói thơ Việt chưa bao giờ có cách cảm nhận mới lạ như thế này. Thường thấy tháng Giêng đẹp, ngày xuân vui chứ chưa bao giờ thấy người nào cảm nhận là ngon như Xuân Diệu. Vẻ đẹp của tháng Giêng được thi sĩ cảm nhận ko chỉ bằng thị giác, thính giác mà còn bằng cả vị giác, xúc giác và bằng cả tâm hồn yêu đời, khát sống đến bồng bột, cuồng nhiệt. Ta thấy ở đây có dấu vết của phép tương giao trong thơ tượng trưng Pháp. Đó là màu sắc rất Tây của thơ Xuân Diệu. Chưa hết, thi sĩ còn so sánh độc và lạ gợi nhiều thú vị liên tưởng cho người đọc. Tháng Giêng ngọt ngào mê đắm như nụ hôn tình ái.

Như một thước phim sống động, khúc thơ làm hiện ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân vô cùng độc đáo và lộng lẫy: rộn rã những âm thanh tình tứ, rực rỡ ánh sáng tinh khôi, nồng nàn hương thơm sắc thắm và ngọt ngào men say ái tình. Mùa xuân có khác nào một thiên đường trên mặt đất, rạo rực sức sống, một mảnh vườn tình ái mà vạn vật đang đua nhau khoe sắc dâng hương, đắm đuối xuân tình. Như vậy, đọc những câu thơ mở đầu của “Vội vàng”, ta thấy được phần nào cái yêu đời đến cuồng nhiệt, cái khát sống đến bồng bột, mãnh liệt của Xuân Diệu. Quả ko sai lúc nói ông là nhà thơ lãng mạn mới nhất trong các nhà thơ mới.

5. Phân tích 13 câu đầu bài thơ Vội vã mẫu 2

Xuân Diệu là thi sĩ mới nhất trong các thi sĩ mới với hồn thơ điển hình cho ngôn ngữ khẩn thiết, tình yêu cuộc sống, con người và rộn rực khao khát giao cảm với đời. Thơ Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, lạ mắt trong chất liệu cũng như trong văn pháp thi ca. “Vội vã” ko chỉ là thi phẩm rực rỡ nhất trong tập thơ Thơ – bài thơ đầu tay Xuân Diệu dành tặng cho nhân gian nhưng mà còn là bài thơ hay nhất cả cuộc sống sáng tác của ông. Bài thơ vừa như 1 nguồn xúc cảm trào dâng vừa là tuyên ngôn sống của 1 thi sĩ khát khao yêu đời. 13 câu đầu là đoạn thơ hay nhất trình bày tình yêu khẩn thiết, niềm say đắm mãnh liệt của thi nhân với cuộc sống tươi đẹp nơi trần giới.

Với “Vội vã” thi sĩ đã xây lầu thơ giữa vẻ đẹp cuộc đời. Bài thơ quyến rũ người đọc ko chỉ bởi sự liên kết hài hòa, thuần thục giữa mạch xúc cảm dồi dào và mạch luận lý thâm thúy trong 1 giọng điệu sôi nổi, say đắm nhưng mà còn đem lại sự trải nghiệm mới mẻ về sự cải cách nghệ thuật lạ mắt của 1 hồn thơ mới Xuân Diệu.

Bắt đầu bài thơ tác giả bộc bạch thái độ uy nghiêm như muốn đoạt quyền tạo hóa.

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi

Điệp ngữ “tôi muốn” và thể thơ ngũ ngôn với tiết tấu nhanh, mạnh, dứt khoát đã góp phần trình bày khao khát khẩn thiết, mãnh liệt của nhà thơ. Đấy là ước vọng tắt nắng buộc gió để “màu đừng nhạt mất” để “hương đừng bay đi”. Nếu thời kì đi bằng nắng, bằng gió làm nhạt màu, làm phai hương thì thi sĩ muốn níu giữ thời kì ngưng bước, để màu sắc và hương thơm còn mãi với cuộc đời, để giữ mãi thời tươi xuân thì của tạo vật. Đấy là ước vọng bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vì đóa hoa hương sắc cuộc đời tươi thắm, ngọt ngào nhưng mà mỏng manh, ngắn ngủi biết bao. Có thể nói đằng sau ước vọng bất hợp lí đấy là 1 tâm hồn yêu người với thái độ trân trọng, nâng niu và giữ giàng.

Là 1 thi sĩ khao khát giao cảm với đời, sự mong muốn chiếm lĩnh vẻ đẹp tự nhiên của thi sĩ phải chăng khởi hành từ bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới đang mơn mởn non tơ.

Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Như nghìn lời mời gọi, điệp ngữ “này đây” được lặp đi lặp lại 5 lần từ đầu tới cuối đoạn thơ trên, vừa diễn đạt sự sang giàu, phong phú vô tận của tự nhiên vừa trình bày cảm giác hoan hỉ, vui sướng của tác giả. “Này đây” là sự hiện hữu của hương sắc cuộc đời, của tự nhiên trần giới, không hề xa xăm nhưng mà gần gụi ngay trước mắt, không hề ở kiếp khác, không hề ở ngày mai hay dĩ vãng nhưng mà ngay trong khi này.

Điệp từ “của” lặp lại khiến câu thơ có vẻ hơi Tây và mới lạ. Sau từ “của” mang thuộc tính kết nối đấy bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới tuần tự xuất hiện, vườn xuân cũng là vườn yêu, vườn tình, vườn ân ái hạnh phúc. Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn rã, mải mê trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngây ngất hưởng thụ, để thi nhân tạo hóa thành nhân tình.

Chính cái nhìn trẻ, cặp mắt xanh non biếc rờn luôn lấy con người làm chuẩn mực của cái đẹp đã hình thành vẻ đẹp riêng trong bức tranh xuân của nhà thơ. Tuần tháng mật của mến thương vội chốc biến thành mùa vui của ong bướm dặt dìu, cành xuân đã hóa thành cành tơ phất phơ đầy sức sống, tiếng hót say sưa của chim yến, chim oanh biến thành điệu tình si si mê lòng người và rạng đông xuân kiều diễm mang khuôn mặt của người đẹp diễm lệ với rèm mi ánh sáng.

Bằng tâm hồn phong phú và trí hình dung dồi dào của mình với câu thơ:

“Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa”

Thi nhân đã tạo ra sự bất thần đầy thú vị bởi sự liên tưởng bất thần cực kỳ lạ mắt. Hình ảnh “thần vui hằng gõ cửa” gợi liên tưởng gần gụi với hình tượng mặt trời trong thần thoại Hy Lạp xưa, cũng có thể là vị thần mang thú vui tặng thưởng cho nhân gian vào mỗi buổi sớm sớm mai, đánh thức mọi người dậy để hưởng thụ tự nhiên, cuộc sống tươi đẹp. Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được chiêm ngưỡng ánh dương, được hưởng thụ sắc hương của vạn vật là 1 ngày hoan hỉ vui sướng. Và trong niềm hoan hỉ vui sướng ấy ngòi bút của Xuân Diệu thật sự rất xuất thần, ông đã sáng hình thành 1 câu thơ kiệt tác:

“Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”

Đây là câu thơ mới mẻ nhất, tiên tiến nhất, đã nói chung được sự quyến rũ của mùa xuân bằng sự so sánh cực kỳ lạ mắt. Có thể nói, trước Xuân Diệu, chưa có người nào “tỏ tình” với tự nhiên tương tự. Nhà thơ cảm thụ tự nhiên bằng tình đôi lứa, bằng thân xác và tâm hồn. Sự quyến rũ của tự nhiên xuất hiện trong vẻ đẹp của người yêu với “cặp môi gần” căng tràn tươi trẻ, mê đắm và lôi cuốn. Từ ngon được thốt lên đầy khao khát, nhục cảm bởi thi sĩ đã huy động mọi cảm quan: từ thị giác, thính giác, vị giác tới xúc giác để hưởng thụ tự nhiên, tuổi xanh và cuộc đời này. Phép so sánh như đã đưa cặp môi của người thanh nữ biến thành trung tâm của vũ trụ, con người biến thành chuẩn mực cho cái đẹp, là thước đo vẻ đẹp của tạo hóa. “Tháng giêng” là 1 định nghĩa thời kì vốn vô hình, nhưng mà trong phép so sánh vừa táo tợn vừa mang sắc thái biểu cảm đấy đã phát triển thành trẻ trung hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi gần của người thanh nữ đầy thâm thúy.

Nhưng ngay khi chàng nhà thơ trẻ đang ngây ngất mê đắm cực kỳ trong niềm hưởng thụ mật ngọt tình yêu nơi thiên đàng trần giới, đang thỏa thuê với bữa tiệc bự của nhân gian và reo lên “tôi phấn kích” thì cũng chính là khi thi nhân dừng lặng với cảm giác “vội vã 1 nửa”.

“Tôi phấn kích. Nhưng vội vã 1 nửa”

Câu thơ bị ngắt làm 2, thú vui ko toàn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhìn thấy rằng điều phấn kích đấy ngắn ngủi biết bao. Dự cảm mơ hồ về sự mỏng manh, ngắn ngủi của kiếp người đã làm cho thi nhân sống vội vã hưởng thụ.

“Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

Hai câu thơ được xem như 2 cái bản lề khép mở tâm cảnh vừa nhiệt tình say đắm vẻ đẹp của cuộc sống tình yêu vừa là linh tính bất an, băn khoăn đau buồn của thi sĩ vì thời kì qua mau, tuổi xanh 1 đi ko quay về, quả thực Xuân Diệu là thi sĩ của những giác quan tinh tế về thời kì.

Trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mệnh thì đây là những vần thơ xuân diệu nhất. Bằng 1 vẻ ngoài nghệ thuật điêu luyện, sự liên kết nhuần nhì giữa xúc cảm mỏng manh và mạch luận lý, giọng điệu ham mê, sôi nổi cộng với những thông minh lạ mắt về ngôn từ và hình ảnh thơ. Qua 13 câu đầu, Xuân Diệu đã mang đến 1 thông điệp mang ý nghĩa nhân bản hăng hái: Trong nhân gian này cuốn hút nhất, lôi cuốn nhất chính là con người giữa tuổi xanh và tình yêu; thiên đàng chính là cuộc sống tươi đẹp nơi trần giới. Thành ra hãy sống khẩn thiết yêu, hãy say đắm hưởng thụ và tận hiến để mỗi ngày qua đi ta được sống toàn vẹn trong tình yêu và hạnh phúc.

6. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã ngắn gọn mẫu 3

Phân tích 13 câu thơ đầu bài Vội Vàng của Xuân Diệu cho con người ta thấy được: Thời gian là 1 cái ko bao giờ quay về, nó như 1 vòng tuần hoàn, tới rồi đi. Và đi 1 cách hấp tấp, nhưng mà con người chẳng thể tự xoay chuyển nó được ấy chính là nỗi lòng của Xuân Diệu muốn nhắc đến ở đây. Xuân Diệu muốn khuyên con người chúng ta ko nên để thời kì trôi qua 1 cách vô dụng nhưng mà phải biết quý trọng, tôn trọng thời kì.

Bắt đầu bài thơ, là 1 nỗi lòng của chính tác giả các động từ tắt, buộc có thể có thể nói nếu là 1 vật dụng thì có thể con người làm được, nhưng mà cái nhưng mà tác giả muốn tắt, muốn buộc lại ấy là hương thơm, là nhựa sống cái nắng mới của tự nhiên của đất trời.

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.

Qua 4 câu thơ này, tác giả muốn nhấn mạnh rằng cái nhưng mà của tự nhiên đất trời ko bao giờ chúng ta giữ nó lại được. Và nó sẽ mãi đi, liên hoàn như 1 vòng tuần hoàn. Ở các câu thơ còn lại ấy là 1 bức tranh tự nhiên và số mệnh của mỗi con người. ở đây tác giả muốn nói lúc sống chúng ta phải biết chiêm ngưỡng vẽ đẹp, cuộc sống của tự nhiên, đừng để nó ấy nhưng mà ko có người nào chiêm ngưỡng hay tận hưởng. Các từ ngữ giàu sức phong phú và chân thật. của các loài động vật bé nhỏ nhưng mà đủ để con người ta nhìn nhận và bình chọn về cuộc sống muôn màu của tự nhiên.

Của bướm ong này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh biếc;
Này đây lá của cành tơ phất phơ;
Của yến oanh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần;
Tôi phấn kích. Nhưng vội vã 1 nửa:
Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Bến cạnh quang cảnh của tự nhiên ấy, là sự ra đi của con người cũng ko biết là khi nào. Khi vui thì thần cửa tới gõ cửa khi nào ko hay có thể nói sự chết sống của con người dựa dẫm vào số mệnh vận mệnh của người ấy. Như vậy mình ko biết cuộc đời của mình ra sao thì hãy cồ gắng chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của tự nhiên. Đừng bao giờ để nó trôi đi 1 cách hấp tấp và vô dụng.

Qua đoạn thơ này, tác giả muốn nói rằng, con người lúc còn trẻ phải biết tận hưởng, đừng để thời kì bỏ phí đi. Kế bên ấy còn nhấn mạnh lúc bự tuổi rồi thì sự chết sống của chúng ta ko biết ra đi vào khi nào. Thành ra cần phải tôn trọng trị giá của cuộc sống, tôn trọng thời kì.

7. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 4

Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu, dù ấy là tình yêu gì đi chăng nữa thì nó vẫn ngọt ngào đầy cảm xúc. Ông còn được bình chọn là thi sĩ mới nhất trong những thi sĩ mới. Những sáng tác, những bài thơ của ông mang đến cho người đọc 1 sự yêu đời, thú vui về cuộc sống và 1 niềm khát khao cuộc sống tới mãnh liệt cộng với ấy là 1 hồn thơ mới lạ, đem lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ. Trong số ấy, điển hình có bài thơ Vội vã là 1 trong những bài thơ hay trình bày tư tưởng đáng quý ấy của tác giả, và 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên cho người đọc. Những tư tưởng triết lí cũng thế nhưng mà được gửi gắm thành tâm thiên nhiên.

Để mang niềm yêu cuộc sống tới trào dâng, thi sĩ luôn có xúc cảm vội vã trước cuộc sống ngắn ngủi. Mọi thứ trên đời mang vị ngọt đến nhưng mà chỉ 1 lần rồi thôi, ta đâu có đủ thời kì cho những quả ngọt ấy được nếm 1 lần nữa. Không vội vã, ko chạy đến để ôm trọn những gì đang có thì làm sao nhưng mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ 5 chữ độc nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như 1 hơi thở lập cập của 1 con người đang chứa chan xúc cảm. Đại từ nhưng mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở trước hết là tôi, chứ không hề “ta” hay chúng ta và cộng với ấy là động từ “ muốn”- “ tôi muốn. Nhà thơ đang trình bày cái tôi công khai, ngang nhiên ko trốn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thử thách, đi trái lại với thơ ca trung đại, rất ít dám trình bày cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chính là 1 điểm mới của thi sĩ trong nền văn thơ hiện khi bấy giờ. Qua ấy trình bày khao khát mãnh liệt về cuộc sống

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”

Yêu cuộc sống này bởi vậy mọi thứ tác giả muốn làm ấy có thể là tắt nắng đi, buộc gió lại. Những từ “ tắt” buộc” được sử dụng cho những điều hữu hình cầm nắm được vậy nhưng mà tác giả lại phục vụ những sự vật ko bao giờ chúng ta có thể làm được. Ta có thể thấy màu vàng của nắng, cảm thu được hơi ấm từ nó, gió có thể thổi qua, táp vào mặt, mơn man da thịt, có thể thấy gió đong đưa bên những cành liễu.. nhưng mà chẳng bao giờ cầm được nắng nắm được gió. 1 điều tưởng nghe đâu bất hợp lí ấy nhưng mà lại biến thành khao khát của tác giả. Những thứ ấy để làm gì: “ để hương đời đừng nhạt đi, để màu sắc cuộc sống vẫn vẹn nguyên, ko úa tàn”Từng chữ 1 của 4 câu thơ đều nói lên nỗi ham sống tới vô bờ, tột bực tới phát triển thành cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật cả trong nhịp của câu thơ, trình bày ở chỗ câu thơ đang 5 chữ bỗng chuyển xuống 8 chữ.

Đây là 1 biến đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt ta bức tranh xuân tuyệt diệu. 4 dòng thơ đấy đầy ắp những tiếng “này đây, vừa trùng trùng vừa biến hoá. Những câu thơ gợi ra 1 con người đang mê mệt, si mê, rối rít trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đấy ko chỉ là 1 bức tranh xuân, còn là cách để tác giả nhắc đến cái mê đắm về 1 mùa xuân của tuổi xanh, của tình yêu.

Thành ra, “bướm ong, yến oanh”được nhắc đến đây, bởi nó gợi ra vẻ lơi lả, tình tứ, và “bướm lả ong lơi “gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi nhân tình và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Kế bên ấy, chữ “của” trở đi quay về được tác giả như dụng cộng với “này đây” như 1 cặp chẳng thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu thị xúc cảm trước tự nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật vấn vít lấy nhau, là của nhau chẳng thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và nhựa sống tròn trặn có đôi có cặp. Những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “Hoa nở” trên nền “xanh biếc” của đồng nội rộng lớn, “lá” của “cành tơ” đầy sức trẻ và sức sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn đấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phất phơ ” ở sau. Cuộc sống xuất hiện trong hình ảnh của 1 vườn địa đàng, trong cảm xúc của 1 thú vui trần giới.

Câu thơ thứ 9 hiện ra bằng 3 chữ “và này đây”, như thể 1 người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn ngừng lại. Đây ko còn là những hình sắc chi tiết như “lá, hoa, bướm ong” nhưng mà trừu tượng hơn là ánh sáng, thú vui, thời kì – những vật thể ko hữu hình. Không chỉ sử dụng những hình ảnh mang tính tượng trưng cao, cách nhưng mà Xuân Diệu gieo vào lòng người còn là những thứ nhưng mà con người cần phải quý trọng. Vẻ đẹp của tự nhiên chỉ được coi là đẹp lúc mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Đấy chính là vẻ đẹp của “hàng mi” của 1 đôi mắt đẹp. Nhưng có nhẽ nét lạ mắt của 13 câu thơ chính là 2 câu thơ mang tính so sánh cao

Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần.

Hình ảnh so sánh thật thú vị và đầy bất thần, thời kì cuốn hút nhất của mùa xuân lại được coi như 1 cặp môi gần, vừa đem lại sự ham mê, sự quyến rũ nhưng mà còn là sự say đi.

Dưới con mắt của kẻ si tình, mùa xuân xuất hiện thật đẹp, thật gợi cảm. Nó còn được tác giả đi liền với từ “ngon” mặc dầu ko ăn được, ko chạm được nhưng mà lại “ngon”. Mùa xuân như sinh ra cho con người hưởng thụ, cho hạnh phúc tới với con người, thời kì trừu tượng mới phát triển thành gần gụi, bởi vậy mùa xuân hiện lên trong xúc cảm của 1 tâm hồn đang thèm muốn hưởng thụ. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu.

Hình ảnh so sánh đấy như 1 người đang đợi chờ, chuẩn bị hiến dâng cho tình yêu. Chính vì vậy tác giả mới thốt lên nhưng mà lại chùng xuống và có vẻ nuối tiếc:

“Tôi phấn kích
Nhưng vội vã 1 nửa”

Và rồi ở những câu tiếp theo, tác giả nêu ra vì sao lại phấn kích nhưng mà lại vội vã:

Xuân đương tới tức là xuân đương qua
Xuân còn non tức là xuân sẽ già.

Cái mới của bài thơ và cả quan niệm của Xuân Diệu trong bài thơ được thấy rõ và phát hiện. Tưởng chừng nó giống như 1 quy luật phổ biến người nào cũng biết nhưng mà đặt trong trường hợp này, nó lại là cả 1 công đoạn chiêm nghiệm và nhận thức. Tác giả đã để 2 vế tưởng như trái ngược nhau lại biến thành ngang hàng: “đang đến” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Đây là cách nói đầy ấn tượng hình thành sự trôi mau gấp rút cực kỳ của thời kì. Điều này càng có ý nghĩa với 1 người nhưng mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được trình bày với đẳng thức thứ 3, vừa có cảm giác khiếp sợ, lại nuối tiếc nhưng mà cũng có cảm giác như giục giã phải sống sao cho ko phí hoài tuổi xanh, bởi xuân hết thì tôi cũng ko còn nữa..

Và xuân hết tức là tôi cũng mất.

Bằng những nét vẽ cực kỳ chân thật, lạ mắt, Xuân Diệu đã tái tạo lại quang cảnh cực kỳ lãng mạn, 1 thiên đàng dưới mặt đất. Dưới con mắt tinh tế, mẫn cảm của thi sĩ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng mà cuộc sống đấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vã để hưởng thụ hết thú vui và hạnh phúc của cuộc sống. Qua đây tác giả cũng trình bày và gửi gắm tư tưởng sáng sủa yêu đời nhưng mà tác giả đã tạo ra cho lứa tuổi trẻ, cần phải sống, ham mê hết mình để hiến dâng cho tuổi xanh.

8. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 5

Tới với Xuân Diệu – thi sĩ có nguồn cội hòa hợp giữa vùng gió Lào cát trắng cộng với sự siêng năng của xứ Nghệ.

Cha đằng ngoài, mẹ đằng trong
Ông đồ nghề lấy cô hàng nước mắm.

Cả đời Xuân Diệu là cả đời lao động nghệ thuật ko khi nào dừng bút. Đối với ông sự sống ko bao giờ chán nản. Là con người xứ Nghệ siêng năng, nhẫn nại, lao động và thông minh nghệ thuật. Xuân Diệu là thi sĩ mới nhất cả về nội dung lẫn nghệ thuật trong nền văn chương hiện nay. “Vội vã” là 1 trong những tác phẩm thơ xuất xắc của ông. Bài thơ cũng là lời thúc giục sống mãnh liệt, sống hết mình. Hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, trình bày khát vọng sống của tác giả. Tới với 13 câu thơ đầu chúng ta sẽ thấy rõ được sự táo tợn và đầy lãng mạn của thi sĩ. Do vậy, ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình.”

Tôi muốn tắt nắng đi
……………………………..
Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân

“Vội vã” được in trong tập “Thơ thơ”, là 1 trong những bài thơ điển hình nhất của Xuân Diệu trước cách mệnh tháng 8, bức thông điệp nhưng mà Xuân Diệu gửi tới cho người đọc qua từng phần của bài thơ, theo mạch xúc cảm của tác giả. Ngay từ đầu ta bắt gặp 1 thái độ sống:

Tôi muốn tắt nắng đi
………………………………
Cho hương đừng bay xa

Bắt đầu bài thơ là 1 khổ ngũ ngôn trình bày 1 ước vọng kì dị của nhà thơ. Đó là ước vọng quay ngược quy luật thiên nhiên, 1 ước vọng chẳng thể, cực kỳ táo tợn. Tôi muốn “tắt nắng”, “buộc gió” là những điều cực kỳ kì lạ, nhưng mà cực kỳ lạ mắt nhưng mà chỉ có mình Xuân Diệu mới nghĩ ra. Xuân Diệu muốn tắt nắng, muốn buộc gió để giữ lại những cái đẹp, cái tươi thắm của sự vật, của màu, của hương, của cả thời kì. Tác giả chỉ muốn giữ lại thời kì cho riêng mình, để thi sĩ có thể ngắm nhìn và hưởng thụ những điều ấy. Nhà thơ đã đẩy cái tôi chủ quan của mình để làm chỉnh sửa được quy luật của thiên nhiên. Muốn níu giữ thời kì để ngưng động cái ko gian, ý nghĩ ấy táo tợn nhưng mà cực kỳ lãng mạn. Điệp ngữ “tôi muốn” làm nổi trội cái khát vọng mãnh liệt của cuộc sống bởi tự nhiên mùa xuân đầy tươi đẹp và đầy nhựa sống.

Của bướm ong này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh biếc
Này đây lá của cành lớn phất phới.

Cả ko gian như được điểm tô 1 màu xanh non tươi mơn mởn, màu xanh của đồng nội, màu xanh của lá non, màu xanh của cành lớn phất phới, liên kết hài hòa khiến cho bức tranh tự nhiên dạt dào nhựa sống, sinh động, có hồn và phát triển thành tươi mới hơn nhờ vào tiếng hót của loài chim yến oanh.

Của yến oanh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Tiếng chim cất lên tâng bừng rộn ràng hình thành 1 khúc nhạc tình si trong ko gian tràn trề ánh sáng. Mùa xuân tâng bừng, mùa xuân rộn ràng đã dần tới cho thi sĩ 1 thú vui, niềm thèm muốn nắm bắt và muốn tận hưởng mỗi sáng.

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần

Cảm nhận của thi sĩ cũng thật lạ mắt lúc tới với con người. Lâu nay người ta chỉ nói mùa xuân đẹp, mùa xuân tươi và chứa chan nhựa sống nhưng mà chưa người nào nói “mùa xuân ngon”. Nhà thơ Xuân Diệu, với ông mùa xuân ko chỉ cảm nhận bằng thị giác nhưng mà tác giả còn sử dụng giải pháp so sánh để so sánh thật chi tiết “cặp môi gần”. Điều ấy trình bày sự nồng cháy trần giới của con người. Những cặp môi gần đấy, nó ghi lại vào thời kì, xuân đã biến thành 1 quả nhân nhưng mà người nghị viên là nhân tình. Chính ý tưởng ấy đã trẻ hóa toàn cầu già nua, cũ kĩ, khiến cho nó phát triển thành thật mới mẻ. Bức tranh nhà thơ vẽ ra như 1 thiên đàng đầy mật ngọt, nó ko còn đó, ko xa vắng, ko mờ ảo nhưng mà nó hiển hiện với hơi thở với nhịp độ sống ngay giữa cuộc đời trần giới để cho con người mở lòng mình ra nhưng mà hưởng thụ.

Với Xuân Diệu cái gì cũng mới lạ và bằng cặp mắt xanh non của ông của cái tôi tư nhân, Xuân Diệu đã phát xuất hiện toàn cầu này cuốn hút nhất vẫn là vì có con người. Cuộc đời cuốn hút nhất là vào khi tuổi xuân. Và con người chỉ hưởng thụ được điều đấy khi còn trẻ. Song tuổi xanh sẽ tàn phai theo thời kì vì vậy nhưng mà ông phải sống vội vã và gấp gáp.

Tôi phấn kích nhưng mà vội vã 1 nửa
Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Tới đây ta đã hiểu được tại sao nhưng mà nhà thơ muốn can hệ vào những quy luật muôn thuở của tạo hóa để không hề là 1 ước vọng ngông cuồng nông nổi. Nhưng là khát vọng cháy bỏng của thi nhân, ước vọng bất diệt hóa của cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vị của cuộc sống.

Bài thơ là 1 quan niệm sống mới mẻ và táo tợn nhưng mà trước đây chưa từng có. Tới với “Vội Vàng” Xuân Diệu kêu gọi mọi người hãy biết yêu và hưởng thụ những thứ cuộc sống tặng thưởng. Hãy tranh thủ khi còn trẻ để thừa hưởng đầy đủ nhất. Ông ko quên đi trách nhiệm kêu gọi mọi người phải hiến dâng cho cuộc đời. Và trong cuộc đời của ông vội vã hiến dâng chứ không hề vội vã hưởng thụ. Đối với mỗi người chúng ta trong cuộc sống ngày nay không hề người nào cũng biết sống có mong ước, có hoài bão, đôi lúc chỉ là sống để còn đó, sống lạc loài. Đã sống là phải biết sống có mục tiêu, có mong ước, hoài bão. Khi ấy ta mới nhìn thấy cuộc sống này ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn.

9. Phân tích 13 câu đầu bài thơ Vội vã mẫu 7

Trong suốt quá trình nhưng mà phong trào thơ mới nở rộ 1 cách mạnh bạo với sự có mặt trên thị trường của các cây bút có sức thông minh, sức trẻ hình như làm lấn lướt cả 1 nền thơ cổ vốn ngự trị trên non sông hàng nghìn 5. Trong ấy người ta chẳng thể ko đề cập những cái tên điển hình như Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên,… mỗi người 1 vẻ, người nào cũng tạo cho mình 1 chỗ đứng chắc chắn trên thi đàn Việt Nam khi bấy giờ. Và Xuân Diệu đã tới, đã mang đến cho làng thơ mới 1 làn gió lạ, nhận luôn cái danh hiệu “thi sĩ mới nhất trong các thi sĩ mới” nhưng mà Hoài Thanh đã viết những câu rất lôi cuốn như sau: “Hiện thời khó nhưng mà nói hết được cái kinh ngạc của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu tới. Người đã đến giữa chúng ta với 1 trang phục tối tân và chúng ta đã e lệ ko muốn làm thân với con người có vẻ ngoài phương xa đấy,…”. Thơ Xuân Diệu sở dĩ mới lạ là ở cái cách người xây dựng và khai thác chủ đề, giữa 1 loạt các thi sĩ mới tương tự, nhưng mà chỉ có 1 mình Xuân Diệu có cái giọng thơ nồng cháy, say đắm lúc nói về mùa xuân về tình yêu về cuộc đời tương tự. Có thể nói rằng “Thơ Xuân Diệu còn là 1 nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn non nước âm thầm này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vã, sống rối rít, muốn hưởng thụ cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như lúc buồn người đều nồng cháy, thiết tha”. Ở Vội vã người ta thấy rõ được cái chất thơ đấy của Xuân Diệu, đặc trưng là 13 câu thơ đầu, chính là cái cách thi sĩ cảm nhận và hưởng thụ bức tranh tự nhiên, bức tranh mùa xuân, kèm theo ấy là bức tranh tình yêu 1 cách nồng cháy và thiết tha cực kỳ.

Thơ Xuân Diệu không hề người nào cũng cảm thu được cái hay của nó, bởi thỉnh thoảng người ta thấy nó sao dập dồn, sao vội vã và đôi lúc quá chừng “trần trụi” khiến những thi sĩ thời đấy khó chấp thuận, bởi nó mới lạ, mang âm hưởng Pháp nhưng mà lúc đọc vào lại thấy đậm vị quê hương. Nó giống như 1 món ăn vị lạ, khó để nói thành lời, nhưng mà cái người ta ko diễn giải được thì người ta sẽ gạt đi. Ngược lại với những người nào đã yêu thơ Xuân Diệu thì lại mê lắm, và gần như đấy là những người trẻ tuổi, họ có chung 1 nỗi niềm muốn sống “nhanh” muốn hưởng thụ cho trọn hứng của thi sĩ. Và “với 1 thi sĩ còn gì quý bằng sự hoan nghênh của tuổi xanh”.

Ngay từ những dòng thơ đầu Xuân Diệu đã ko ngại ngần nhưng mà biểu thị cái niềm khát khao mãnh liệt của mình giữa cuộc đời.

“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”.

Đấy là những khát khao có phần ngông cuồng và táo tợn, đúng với cái phong cách của Xuân Diệu. Nhà thơ muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió”, muốn đi trái lại với quy luật của đất trời, bởi trên tất cả Xuân Diệu tinh thần được rằng, chẳng có màu nắng nào đẹp bằng nắng của mùa xuân, cũng chẳng có gì thanh mát, xuất sắc như hương hoa cỏ thoảng đưa trong gió biếc. Thế nên ông nhớ tiếc lắm, giả dụ nắng tàn phai, giả dụ gió cuốn hết hương hoa ngọt ngào, thì còn đâu cái mùa xuân tươi đẹp, xinh xắn – thứ nhưng mà ông vẫn hằng trông mong, khát khao và níu giữ cả cuộc đời bằng tất cả say đắm, thiết tha nữa. Chính vì vậy, thi sĩ đã biểu thị cái khao khát cháy bỏng được đi trái lại với quy luật khe khắt của tạo hóa, vượt lên trên tầm vóc của đất trời vũ trụ để lưu lại cho đời những thứ xuất sắc, tốt cuốn hút nhất. Đó là màu nắng nhàn nhạt, êm dịu đượm sắc xuân, đấy là hương thơm diệu kỳ của muôn đóa hoa đặc sắc, đại diện cho 1 trời xuân đang nở rộ. Nhưng chính ra là Xuân Diệu đang cố “tắt nắng đi”, đang muốn “buộc gió lại” để hòng ủ ấp lấy chúng nhưng mà thưởng thức 1 mình, chứ đã nghĩ tới người nào gì cho cam! Xuân Diệu chính là thi sĩ có cái lòng “ích kỷ” kỳ lạ đời như thế, đi giành giật, khát khao thứ nhưng mà hậu thế chẳng mấy người chú ý 1 cách rối rít và hấp tấp, khiến người ta thương nhưng mà ko trách được. Có thể nói rằng, ở trong 4 câu thơ đầu người ta thấy nổi lên 2 cái “tôi” rất lôi cuốn, 1 cái tôi ngông cuồng, mạnh bạo dám thử thách cả tạo hóa, đất trời để đạt được khát vọng tư nhân. Và 1 cái tôi cũng rất mực thơ ngây, hồn nhiên như 1 đứa trẻ, xốc nổi và có những ảo tưởng rất mực hoang đường, nhưng mà lại rất trẻ trung và tràn ngập nhựa sống. Tổng hòa 2 cái tôi tưởng nghe đâu riêng biệt đấy lại đem lại cho thi sĩ 1 chân dung riêng, 1 màu sắc riêng trong toàn cầu thi ca vốn lắm kẻ thiên tài này.

Sau 4 câu thơ bắt đầu, biểu thị khát vọng mãnh liệt, nồng cháy của thi sĩ về mùa xuân thì 9 câu thơ tiếp theo chính là bức tranh tự nhiên mùa xuân trong đôi mắt tình tứ của Xuân Diệu.

“Của bướm ong này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh biếc
Này đây lá của cành tơ phất phơ
Của yến oanh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”

Bức tranh tự nhiên mùa xuân của 1 con người tình mùa xuân như Xuân Diệu quả thật có những cái tinh tế, những cái đẹp khác với người thường. Nhà thơ cảm nhận mùa xuân phê chuẩn nhiều cảm quan, để đưa ra những nét vẽ chân thật và chân thật và cũng có 1 sự logic nhất mực. Cùng lúc phê chuẩn âm điệu của bài thơ, cộng với điệp khúc “Này đây…” người ta dễ dãi liên tưởng tới tới 1 khúc ca mùa xuân với những âm điệu rộn rã, nhưng mà tác giả là người có tâm hồn phóng khoáng, say đắm với từng lời ca. Bắt đầu người ta thấy bức tranh tự nhiên hiện lên với hình ảnh bướm dập dờn tung cánh khoe điệu vũ, ong thì mải miết tìm kiếm mật ngọt, thứ vốn là kết tinh quý giá của thiên nhiên. Và nếu đã có ong, có bướm, lại có cả mật ngọt thì tất nhiên hình ảnh hoa cỏ đặc sắc, và “đồng nội xanh biếc” mở ra ko gian tự nhiên bao la là chẳng thể nào thiếu được.

Đã có hoa, thì đâu thể thiếu lá để điểm tô thêm cho bức tranh được hoàn chỉnh, hình ảnh “lá của cành tơ phất phơ”, người ta thấy 1 cái gì ấy mềm mại lắm, tươi trẻ lắm, gợi ra 1 mùa xuân vừa mới chớm, rất tình tứ và gợi cảm. Về phần hình là vậy, về phần âm thanh, Xuân Diệu đã rất tinh tế lúc chọn “khúc tình si” của yến oanh – vốn là loài chim biểu tượng cho mùa xuân làm bản nhạc đệm cho bức tranh tự nhiên thêm rộn rã. Thế nhưng mà tất cả sẽ thật u ám, nếu thiếu đi cái ánh sáng, cái màu nắng nhàn nhạt của đất trời khi vào xuân. Xuân Diệu viết “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, ánh sáng chớp hàng mi là gì sao nghe lạ quá, nhưng mà đứng dưới cương vị của thi sĩ, ấy là thứ ánh sáng xuất sắc và ấm áp, tươi đẹp biết bao, để người ta ko nỡ lòng tránh đi nhưng mà đứng ngay giữa đất trời để hưởng thụ cảm giác nắng bao trùm cơ thể, thấy được nắng xuyên qua rèm mi buông. Không quá gắt, ko quá chói như nắng hạ, cũng ko u ám, ưu sầu như đông, ấy là thứ ánh sáng vừa đủ mỹ lệ, vừa đủ ấm áp làm tôn lên vẻ đẹp của bức tranh tự nhiên mùa xuân trong lòng tác giả. Xuân Diệu vẽ vài nét vậy thôi, thế nhưng mà người ta đã liên tưởng tới 1 khu vườn đậm sắc, đậm hương với những gam màu tươi trẻ, với những âm thanh rộn rã, và với cả thứ ánh sáng ấm áp, dịu dàng đáng khát khao. Có thể nói rằng xuân đẹp như thế, thì có tiếc gì nhưng mà người ta ko khát khao, ko nguyện vọng chứ.

Và tất nhiên rằng trong thơ của Xuân Diệu thì không thể nào thiếu vắng đi dáng hình của tình yêu được, bởi thiếu tình yêu thì hình như bức tranh tự nhiên mùa xuân vốn đại diện cho tuổi xanh cũng phát triển thành nhạt nhòa, thiếu nhựa sống. Cái tài của Xuân Diệu đấy là lồng ghép 3 từ “tuổi xanh” “mùa xuân” và “tình yêu” vào trong 1 ý thơ, người ta ko cần đọc nhiều nhưng mà cũng đã thấy đủ cả 3 nhân tố đấy. Xuân Diệu luôn để cho bức tranh của mình được tương thích, sự vật nào cũng có đôi có cặp và phát ra những tín hiệu của tình yêu của tuổi xanh. Nếu như ong thì tất nhiên là đi đôi với bướm, và thi sĩ gợi ra nhân tố tình yêu trong cụm “tuần tháng mật” nghĩa là chỉ phút giây ngọt ngào hạnh phúc nhất của những lứa đôi yêu nhau say đắm. Hoặc là hoa thì cũng thành 1 cặp với “đồng nội xanh biếc”, rất tương thích, gam màu đặc sắc của hoa lá liên kết với màu xanh mênh mông của đồng nội cỏ, gợi ra nghĩ tới 1 tình yêu vừa dịu dàng, êm ả, vừa có những cảm xúc cháy bỏng, nồng cháy. “Lá của cành tơ phất phơ” ta lại nghĩ tới những con người trẻ tuổi, đang đeo đuổi tình yêu, kẻ lôi cuốn, thướt tha người trầm mê si mê, cũng rất có phong vị yêu đương.

Tới “yến oanh” thì đã quá rõ ràng, bởi chúng vốn đã là 1 cặp nhân tình chung tình, biết bao đời nay người ta vẫn thường ca tụng, góc cạnh tình yêu ở đây lại được biểu thị qua âm sắc của “khúc tình si”, ngọt ngào, thâm thúy và đầy say đắm. Cuối cùng tới câu “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, câu thơ đem lại cho chúng ta nhiều liên tưởng thú vị? Ta cứ tạm phân ra 2 trường hợp, nếu người có rèm mi đấy là 1 cô gái xuân sắc, đang độ đôi mươi, thì chắc hẳn là người nhưng mà Xuân Diệu hằng để mắt, hằng khát khao 1 tình yêu xuất sắc. Hoặc giả dụ là thi sĩ, thì có nhẽ rằng tình yêu của ông chính là mùa xuân, chính là cuộc đời tươi trẻ đang hằng hiện trước mắt. Và có nhẽ đúng thế tâm thành yêu trong thơ của Xuân Diệu ko chỉ hữu hạn trong tình yêu lứa đôi, nhưng mà nó còn là tình yêu với tự nhiên, với cây cối, tình yêu với cuộc đời với tuổi xanh 1 cách thâm thúy và thấm thía. Thế nên lúc thấy Xuân Diệu nuối tiếc, khát khao thì thường thấy những thứ đấy trở đi quay về trong thơ ông. Nhận định này có thể dễ dãi chứng minh qua 2 câu thơ cuối đoạn “Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa/ Tháng Giêng ngon như 1 cặp môi gần”.

Tôi biết có rất nhiều người, mỗi buổi sớm thức dậy đối với họ là sự mỏi mệt đang đón nhận, công tác và sức ép cuộc sống chồng chất, người ta thỉnh thoảng chỉ muốn được nhắm mắt nhắm mũi thêm chút nữa. Nhưng Xuân Diệu thì khác, ông có 1 trái tim tâm huyết, nồng cháy, 1 niềm tin yêu vào cuộc sống, thế nên đối với ông mỗi 1 buổi sáng đã là 1 thú vui quý giá, và cái người ta cần làm là hưởng thụ nó cho thỏa sức. Kế bên ấy niềm khát khao mãnh liệt của thi sĩ với mùa xuân cũng gần giống như cái cách nhưng mà người trẻ đeo đuổi tình yêu vậy, rất nồng cháy, rất say đắm thế nên tháng Giêng tháng của mùa xuân nó cũng quyến rũ, căng tràn nhựa sống như đôi môi ngọt ngào căng mọng của thanh nữ độ 2 mươi vậy.

Như vậy có thể thấy trong 13 câu thơ đầu Xuân Diệu vừa biểu thị cái tôi tư nhân đặc trưng của mình cùng lúc cũng bộc bạch nỗi lòng khát khao mãnh liệt về mùa xuân tình yêu và tuổi xanh phê chuẩn bức tranh quang cảnh mùa xuân đầy đủ hương, sắc, vị. Thông qua ấy tác giả còn cho chúng ta nhìn thấy 1 chân lý rằng cái đẹp của tạo hóa luôn ngự trị ở bao quanh chúng ta, chứ không hề là 1 chốn thần tiên, cõi phật nào cả, vấn đề là con người có đủ tình yêu, sự tinh tế để cảm nhận và hưởng thụ chúng hay ko nhưng mà thôi.

10. Cảm nhận 13 câu đầu bài Vội vã

Thơ Xuân Diệu là “vườn mơn trớn”, ca tụng tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ. Xuân Diệu là thi sĩ điển hình nhất, là đại biểu đầy đủ nhất cho phong trào thơ mới, bởi cái phong cách rất riêng khó có thể trùng lặp với người nào, 1 cá tính thơ rất Xuân Diệu, mới cả về nội dung và vẻ ngoài. “Với những vần thơ ít lời nhưng mà nhiều ý, hàm súc nhưng mà đọng lại bao lăm tinh hoa, Xuân Diệu là 1 tay thợ biết khiến cho ta kinh ngạc vì nghệ thuật dai sức và cần cù”. Đặc trưng khổ thơ trước hết trong bài thơ “Vội vã” là 1 trong những bài thơ của nhà thơ đã biểu thị cái tôi trữ tình lạ mắt, đầy sức thông minh của nhà thơ Xuân Diệu.

Bài thơ “Vội vã” được nhà thơ Xuân Diệu lấy cảm hứng từ vẻ đẹp của mùa xuân, của tình yêu và của lòng người. Xuân Diệu đã rất tinh tế lúc nhìn thấy vẻ đẹp của tự nhiên trong mùa xuân, nó làm cho lòng người lâng lâng và chẳng thể cưỡng lại nổi sức hút hút.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của bướm ong này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh biếc

Này đây lá của cành tơ phất phơ

Của bướm ong này đây khúc tình si.

Bắt đầu bài thơ, Xuân Diệu đã trình bày 1 ước vọng kì dị tới ngông cuồng: “Tôi muốn tắt nắng/ tôi muốn buộc gió”. Đấy là những ước vọng kì dị bởi tắt nắng, buộc gió là công tác của tạo hóa thiên nhiên. Thi sĩ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa. Là bởi tắt nắng “cho màu đừng nhạt”, buộc gió ”cho hương đừng bay đi”. Hóa ra trong niềm ước cực kỳ ngộ nghĩnh, ngông cuồng đấy thi sĩ muốn bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp mãi mãi lên hương tỏa sắc giữa cuộc đời này.

Thật vậy mọi thứ trên đời mang vị ngọt đến nhưng mà chỉ 1 lần rồi thôi, ta đâu có đủ thời kì cho những quả ngọt ấy được nếm 1 lần nữa. Với Xuân Diệu ko vội vã, ko chạy đến để ôm trọn những gì đang có thì làm sao nhưng mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ 5 chữ độc nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như 1 hơi thở lập cập của 1 con người đang chứa chan xúc cảm. Đại từ nhưng mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở trước hết là tôi, chứ không hề “ta” hay chúng ta và cộng với ấy là động từ “muốn” – “tôi muốn. Nhà thơ đang trình bày cái tôi công khai, ngang nhiên ko trốn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thử thách, đi trái lại với thơ ca trung đại, rất ít dám trình bày cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chính là 1 điểm mới của thi sĩ trong nền văn thơ hiện khi bấy giờ, qua ấy trình bày khao khát mãnh liệt về cuộc sống. Ông muốn ôm hết xuân sắc của đời để sống, để yêu mãnh liệt hơn nữa.

Hình ảnh của cuộc sống đi vào thơ Xuân Diệu như 1 thứ ánh sáng được khúc xạ qua lăng kính tình yêu rất tinh khôi và giàu nhựa sống. Càng yêu đời, thi sĩ càng luyến tiếc trước dòng chảy của thời kì. Thời điểm vạn vật đang căng tràn sức sống cũng chính là khi đang đứng trên ranh giới của sự lụi tàn, héo úa. Vì vậy từ những câu thơ gãy gọn ở khổ đầu, thi sĩ đi vào khổ 2 với những câu thơ dài, âm điệu chậm như bước chân người thoải mái dạo ngắm vườn xuân muốn hưởng thụ giờ phút huy hoàng đấy. Thi sĩ từ tốn chỉ cho người đọc những gì tinh hoa, tươi cuốn hút nhất của nhân gian với 1 thái độ kính yêu, trân trọng ”này đây”. Mạch xúc cảm được chuyển tiếp sang 1 bức tranh tình yêu chứa chan màu sắc:

Của bướm ong này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh biếc

Này đây lá của cành tơ phất phơ

Của yến oanh này đây khúc tình si

Thành ra, “bướm ong, yến oanh” được nhắc đến đây, bởi nó gợi ra vẻ lơi lả, tình tứ và “bướm lả ong lơi“ gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi nhân tình và hơn thế “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Kế bên ấy, chữ “của” trở đi quay về được tác giả như dụng cộng với “này đây” như 1 cặp chẳng thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu thị xúc cảm trước tự nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật vấn vít lấy nhau, là của nhau chẳng thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và nhựa sống tròn trặn có đôi có cặp.những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “Hoa“ nở trên nền “xanh biếc“ của đồng nội rộng lớn, “lá” của “cành tơ” đầy sức trẻ và sức sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn đấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “tơ phất phơ” ở sau. Cuộc sống xuất hiện trong hình ảnh của 1 khu vườn tự nhiên chân thật đầy sắc màu, trong cảm xúc của 1 thú vui trần giới.

Điệp từ “này đây” đứng đầu câu và được nhắc đi nhắc lại 4 lần vừa mang thuộc tính liệt kê, vừa mang thuộc tính khẳng định, nhấn mạnh vừa như muốn sở hữu những vẻ đẹp đang chứa chan ở ngoài kia. Sau mỗi từ “này đây” là 1 loạt những hình ảnh tươi đẹp xuất hiện “hoa của đồng nội xanh biếc”, “lá của cành tơ phất phơ”. Đấy đều là những hình ảnh đặc thù của mùa xuân, của những gì thanh khiết và tươi cuốn hút nhất. Tất cả những hình ảnh đấy làm cho nhà thơ chạnh lòng và muốn sở hữu. Đây có thể nói là khao khát, là ước vọng mãnh liệt nhất nhưng mà Xuân Diệu đang muốn sở hữu.

Chính cái nhìn của ”cặp mắt xanh non biếc rờn” luôn lấy con người giữa mùa xuân, tuổi xanh và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp đã hình thành vẻ riêng lạ mắt trong bức tranh mùa xuân của nhà thơ. Chúng ta có thể nhận thấy thi sĩ mô tả ong bướm đang sống trong tuần tháng mật, cành xuân thì thành cành tơ đầy nhựa sống, tiếng hát của yến oanh cũng thành điệu tình si rộn rã. Tất cả vạn vật đều đang trong tình trạng hạnh phúc. Và táo tợn nhất là cách so sánh “Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần” thật gần gụi và gợi cảm. Dưới con mắt “xanh non” của nhà thơ, mùa xuân tựa như 1 cô gái diễm lệ, hồng hào, tình tứ đầy quyến rũ.

Với ngôn từ gọt giũa, mượt nhưng mà, Xuân Diệu hình như đang thổi hồn vào từng câu, từng chữ của đoạn thơ khiến nó phát triển thành sinh động và quyến rũ. Bức tranh tự nhiên tươi vui, đầy màu sắc đang tràn ra qua từng câu thơ. Điệp từ “này đây” biểu thị thú vui tươi phất phới, hoan hỉ của tác giả lúc được say đắm trong quang cảnh xuất sắc như thế này.

Xuân Diệu đã vẽ lên trước mắt người đọc cả toàn cầu chân thật, trình bày “nguồn sống dạt dào”. Xuân Diệu là 1 hồn thơ yêu đời và tài giỏi. Thi sĩ đã vẽ lên trong tâm khảm người đọc 1 bức tranh tự nhiên nơi trần giới tuyệt đẹp.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin bổ ích khác trên phân mục Tài liệu của KTHN VN.

.

Thông tin thêm

Top 10 mẫu phân tách 13 câu đầu bài Vội vã siêu hay

#Top #mẫu #phân #tích #câu #đầu #bài #Vội #vàng #siêu #hay

[rule_3_plain]

#Top #mẫu #phân #tích #câu #đầu #bài #Vội #vàng #siêu #hay

Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã của Xuân Diệu để thấy được khao khát sống mãnh liệt, niềm yêu tự nhiên thâm thúy của tác giả trong cuộc sống. Sau đây là dàn ý phân tách 13 câu đầu bài Vội vã cùng mẫu phân tách 13 câu đầu bài Vội vã hay thâm thúy sẽ là tài liệu học tập hữu dụng cho các bạn.

Top 7 mẫu cảm nhận bài thơ Vội vã hay nhất
Top 6 bài phân tách bài thơ Vội vã siêu hay

Vội vã là tác phẩm điển hình cho cá tính thơ của Xuân Diệu, tác phẩm được trích từ tập Thơ Thơ (đây là tập thơ đầu tay của Xuân Diệu). Vội vã như 1 lời thúc giục của 1 tâm hồn trẻ dạt dào mến thương, khao khát sống và ham mê cuộc đời mãnh liệt.

Chỉ với 13 câu đầu bài Vội vã, Xuân Diệu đã cho người đọc cảm thu được tình mến thương khẩn thiết nơi trần giới, làm sống dậy những nét lôi cuốn, vẻ đẹp diệu kì của tự nhiên. Trong bài viết Hoatieu xin san sẻ bài văn phân tách 13 câu đầu bài Vội vã, cảm nhận 13 câu đầu bài Vội vã hay và cụ thể để độc giả thông suốt hơn về nội dung và nghệ thuật 13 câu đầu Vội vã.

1. Dàn ý bài phân tách 13 câu đầu bài Vội vã

a. Mở bài

– Sơ lược về tác giả Xuân Diệu

– Dẫn vào phân tách 13 câu thơ đầu của Vội vã

b. Thân bài:

4 câu thơ đầu: Nhưng khát khao lạ đời cùng 2 cái “tôi’ của Xuân Diệu.

– Muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để lưu giữ cho cuộc đời những gì cuốn hút nhất, tinh thần được sự quý giá, vẻ đẹp của nắng xuân của hương hoa cỏ.

– Sự hiện ra của cái tôi ngông cuồng, thử thách cả vũ trụ hòa quyện với cái tôi hồn nhiên, yêu đời đem lại 1 hồn thơ Xuân Diệu rất riêng.

Bức tranh tự nhiên mùa xuân:

Nhà thơ cảm nhận mùa xuân phê chuẩn nhiều cảm quan, để đưa ra những nét vẽ chân thật và chân thật và cũng có 1 sự logic nhất mực.

– Điệp khúc “Này đây…” khiến người độc liên tưởng tới 1 khúc ca say đắm, vui mừng.

– Bức tranh mùa xuân của Xuân Diệu được gợi lên từ những cảnh sắc cực kỳ phổ biến nhưng mà lại mang vẻ đẹp tràn ngập nhựa sống:

+ Hình ảnh ong, bướm cùng mật ngọt, gam màu đặc sắc của muôn loài hoa liên kết với cái màu xanh biếc tươi mới của đồng nội cỏ, sự mềm mại uyển chuyển của “cành tơ phất phơ”, sự rộn ràng, mê ly trong “khúc tình si” của cặp yến oanh.

+ “ánh sáng chớp hàng mi” khiến người đọc có nhiều liên tưởng về 1 thứ ánh sáng tuyệt diệu, dịu dàng bao trùm khắp ko gian.

Bức tranh tuổi xanh, tình yêu:

– Mỗi sự vật trong bức tranh mùa xuân của Xuân Diệu đều có đôi có cặp: ong đi với bướm say đắm ngọt ngào, trẻ trung trong “tuần tháng mật”, hoa hòa quyện với đồng nội đem lại cảm giác tình yêu phóng khoáng và thấu hiểu, chứa chan sức xuân, lá đi với “cành tơ phất phơ” trình bày tình yêu lôi cuốn, mềm mại và thướt tha, yến oanh là mối tình chung tình, gắn bó với “khúc tình si”

– “Ánh sáng chớp hàng mi”: Gợi liên tưởng tới hình ảnh thanh nữ khép hờ mắt dưới ánh nắng sớm mai, mang dáng vẻ hình hài trẻ trung, son sắc là niềm ham mê của thi sĩ.

– Tình yêu ko chỉ nằm trong phạm vi tình yêu 5 nữ nhưng mà còn trình bày ở cả tình yêu với tự nhiên, với cuộc đời nhưng mà Xuân Diệu xúc động viết “Tháng Giêng ngon như 1 cặp môi hồng”, trình bày nỗi khao khát cháy bỏng với mùa xuân, với tuổi xanh.

c. Kết bài:

Nêu cảm nhận tư nhân.

2. Dàn ý bài phân tách 13 câu đầu bài Vội vã cụ thể

a) Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

Xuân Diệu là thi sĩ của mùa xuân, tình yêu và tuổi xanh, 1 trong những thi sĩ bự của Việt Nam nổi danh từ phong trào Thơ mới.

“Vội vã” là 1 trong những bài thơ hoàn hảo nhất trình bày tình yêu cuộc sống thiết tha, quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu.

– Khái quát nội dung 13 câu đầu Vội vã : Ước vọng táo tợn cùng tâm cảnh hoan hỉ chào đón nhưng mà rồi lại vội vã và rối rít trước sự lưu loát của thời kì.

b) Thân bài:

* Luận điểm 1: Khao khát lưu giữ vẻ đẹp của tự nhiên

– Trong thơ ca trung đại ít có thi sĩ nào dám khẳng định cái tôi tư nhân của mình 1 cách táo tợn nhưng mà lúc tới với phong trào Thơ mới, cái tôi Xuân Diệu đã biểu thị 1 cách cực kỳ lạ mắt:

“Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi”.

Mùa xuân là mùa tươi cuốn hút nhất trong 5 cũng như tuổi xanh là khoảng thời kì cuốn hút nhất trong cuộc đời mỗi con người.

4 dòng thơ ngũ ngôn như lời đề từ của bài thơ, khẳng định ước vọng đoạt quyền tạo hóa của thi nhân.

“Nắng” mùa xuân là ánh sáng đặc sắc, ấm áp và tươi vui, “hương” mùa xuân là nơi tinh hoa của đất trời, của vạn vật kết tinh, tụ hội.

Hành động “tắt nắng”, “buộc gió” là những mong muốn hình như ko tài nào tiến hành được bởi lẽ nó đi trái lại với những quy luật vốn có của thiên nhiên.

– Xuân Diệu muốn ngăn cản bước đi của thời kì để lưu giữ những phút giây cuốn hút nhất, đáng nhớ nhất.

Thi sĩ khát khao giữ lại ánh nắng để “màu đừng nhạt mất”, giữ lại gió để cuộc sống luôn tràn trề sắc hương.

Điệp cấu trúc “Tôi muốn… để”, động từ mạnh “tắt”, “buộc” cộng với nhịp thơ nhanh, dập dồn, trình bày khát khao mãnh liệt, lập cập, muốn mau chóng ko để những vẻ đẹp tạo hóa vụt mất khỏi tầm tay.

Nếu thời kì đi bằng nắng, bằng gió làm nhạt màu, làm phai hương thì thi sĩ muốn níu giữ thời kì dừng bước, để màu sắc và hương thơm còn mãi với cuộc đời, để giữ mãi thời tươi xuân thì của tạo vật.

Cũng do đó, khát khao này cũng trình bày sự ham sống xốc nổi tới mãnh liệt và quan niệm về thời kì của ông: Thời gian tuyến tính 1 chiều, lúc đã trôi qua rồi thì ko quay về nên thi sĩ có khát khao giữ nắng, giữ gió để hưởng thụ hết vẻ đẹp của đất trời.

=> Đấy là ước vọng bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vì đóa hoa hương sắc cuộc đời tươi thắm, ngọt ngào nhưng mà mỏng manh, ngắn ngủi biết bao. Có thể nói đằng sau ước vọng bất hợp lí đấy là 1 tâm hồn yêu người với thái độ trân trọng, nâng niu và giữ giàng.

* Luận điểm 2: Bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp

– Từ thể thơ 4 chữ, thi sĩ chuyển sang những câu thơ 8 chữ, nhịp thơ như trải tỏ ra, chậm chạp, nhẹ nhõm như nhịp tâm hồn nhà thơ đang hưởng thụ những tinh hoa của đất trời mùa xuân

– Điệp ngữ “này đây” được lặp đi lặp lại 5 lần như 1 lời mời gọi, liên kết với thủ pháp liệt kê, vừa diễn đạt sự sang giàu, phong phú vô tận của tự nhiên vừa trình bày cảm giác hoan hỉ, vui sướng của tác giả.

– “Này đây” là sự hiện hữu của hương sắc cuộc đời, của tự nhiên trần giới, không hề xa xăm nhưng mà gần gụi ngay trước mắt, không hề ở ngày mai hay dĩ vãng nhưng mà ngay trong hiện nay khi này.

– Điệp từ “của” lặp lại mang thuộc tính kết nối khiến cho bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới tuần tự xuất hiện, lại thêm phần phong phú, sang giàu.

– Nhà thơ sử dụng 1 loạt giải pháp tu từ nhân hoá, dùng những danh từ thuộc về con người (“tuần tháng mật”, “khúc tình si”) để mô tả tự nhiên, liên kết với “bướm ong”, “yến oanh” được gọi tên như đôi như lứa làm cho vườn xuân bỗng đầy mơ mộng, lãng mạn, vườn xuân cũng là vườn yêu, vườn tình, vườn ân ái hạnh phúc.

– Tính từ “xanh biếc”, “phất phơ” giàu sức gợi tả vẽ nên cảnh tự nhiên mùa xuân non tơ, chứa chan nhựa sống

=> Bức tranh xuân ko chỉ có cảnh vật xinh tươi nhưng mà còn chứa chan ánh sáng và thú vui, hình ảnh “ánh sáng chớp hàng mi” và “thần vui” cực kỳ gợi cảm. Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được chiêm ngưỡng ánh dương, được hưởng thụ sắc hương của vạn vật là 1 ngày hoan hỉ vui sướng

– Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn rã, mải mê trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngây ngất hưởng thụ, để thi nhân tạo hóa thành nhân tình:

“Tháng Giêng non như 1 cặp môi gần”

Câu thơ sử dụng nghệ thuật ẩn biến đổi cảm giác, hay chính là phép giao thoa nhưng mà thơ Mới tiếp nhận được từ thơ ca biểu tượng PhápĐây là câu thơ mới mẻ nhất, tiên tiến nhất, đã nói chung được sự quyến rũ của mùa xuân bằng sự so sánh cực kỳ lạ mắt. Nhà thơ cảm thụ tự nhiên bằng tình đôi lứa, bằng thân xác và tâm hồn.

– Sự quyến rũ của tự nhiên xuất hiện trong vẻ đẹp của người yêu với “cặp môi gần” căng tràn tươi trẻ, mê đắm và lôi cuốn.

Từ “ngon” được thốt lên đầy khao khát, và ham mê, là sự cảm nhận sâu nhất bằng mọi cảm quan

Phép so sánh như đã đưa cặp môi của người thanh nữ biến thành trung tâm của vũ trụ, con người biến thành chuẩn mực cho cái đẹp, là thước đo vẻ đẹp của tạo hóa.

“Tháng giêng” là 1 định nghĩa thời kì vốn vô hình, nhưng mà trong phép so sánh vừa táo tợn vừa mang sắc thái biểu cảm đấy đã phát triển thành trẻ trung hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi gần của người thanh nữ.

=> Nhà thơ đã trình bày quan niệm của mình 1 cách thật thâm thúy: Nếu trong thơ ca Trung đại, các thi nhân lấy tự nhiên để làm chuẩn mực cho cái đẹp của con người thì tới với Xuân Diệu, con người mới là chuẩn mực cho mọi cái đẹp còn đó trên cuộc đời này, và thiên đàng không hề là những chốn thiên thai xa xăm, mê hoặc nào ấy, nhưng mà chính là nơi đây, chính mặt đất trần giới mới là thiên đàng của tình yêu, của cái đẹp và của tuổi xanh.

* Luận điểm 3: Tâm cảnh của nhà thơ

– Ngay khi chàng nhà thơ trẻ đang ngây ngất mê đắm cực kỳ trong niềm hưởng thụ mật ngọt tình yêu nơi thiên đàng trần giới, đang thỏa thuê với bữa tiệc bự của nhân gian và reo lên “tôi phấn kích” thì cũng chính là khi thi nhân dừng lặng với cảm giác “vội vã 1 nửa”.

– Câu thơ bị ngắt làm 2, thú vui ko toàn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhìn thấy rằng điều phấn kích đấy ngắn ngủi biết bao. Dự cảm mơ hồ về sự mỏng manh, ngắn ngủi của kiếp người đã làm cho thi nhân sống vội vã hưởng thụ.

=> Hai câu thơ được xem như 2 cái bản lề khép mở tâm cảnh vừa nhiệt tình say đắm vẻ đẹp của cuộc sống tình yêu vừa là linh tính bất an, băn khoăn đau buồn của thi sĩ vì thời kì qua mau, tuổi xanh 1 đi ko quay về, quả thực Xuân Diệu là thi sĩ của những giác quan tinh tế về thời kì.

c) Kết bài

Khái quát lại nội dung 13 câu thơ đầu Vội vã.

Nêu cảm nhận của em.

3. Lược đồ tư duy phân tách 13 câu đầu bài Vội vã

4. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 1

Nhà thơ Thế Lữ đã từng có nhận xét khá tinh tế về Xuân Diệu: “Xuân Diệu là 1 người của đời, 1 người hầu giữa nhân loại. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của 1 tấm lòng nhân gian”. Có thể nói, Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam một “bộ y phục tối tân”, táo 3̣o, một “cảm hứng dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Cứ mỗi độ xuân về, trái tim non của những thế hệ trẻ lại rung lên với cảm xúc yêu đời tha thiết, mãnh liệt trước lời ru yêu đời mà thấm thía của Xuân Diệu. Một trong những lời ru yêu đời thấm thía ấy được gửi gắm qua tác phẩm “Vội vàng” – một 3̀i thơ tiêu biểu cho phong cách thơ độc đáo của Xuân Diệu. Cả 3̀i thơ là niềm yêu đời mãnh liệt, lòng ham sống đến bồng bột, cuồng nhiệt. Đến với 13 câu đầu trong “Vội vàng”, chúng ta sẽ thấy rõ được ước muốn táo 3̣o, kì lạ của thi sĩ và bức tranh xuân – vẻ đẹp thiên đường trên mặt đất.

Rút ra từ tập “Thơ thơ”, Vội vàng là thi phẩm kết tinh vẻ đẹp hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8. Mở đầu 3̀i thơ là khổ thơ ngũ ngôn thể hiện ước muốn cháy bỏng của thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đimàu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi

Câu thơ ngắn, nhịp thơ nhanh liên tiếp các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc, khổ thơ như khúc ca sôi nổi, ham mê về những ước muốn khát khao cất lên từ trái tim của thi sĩ. Muốn tắt nắng, muốn buộc gió để màu đừng nhạt, hương đừng phai, nghĩa là Xuân Diệu muốn níu giữ mãi hương thơm sắc thắm, muốn bất tử hóa vẻ đẹp mùa xuân nơi trần thế. Nghĩa là Xuân Diệu muốn mãi mãi một mùa xuân tuyệt vời. Ham muốn, khát vọng của thi sĩ thật vô cùng lãng mạn. Phải là một hồn thơ yêu đời ham sống mãnh liệt đến vô bờ mới có những ham muốn bồng bột, táo 3̣o ấy.

Là một nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời, ham mê cuộc đời bằng một niềm yêu đời mãnh liệt, bằng cặp mắt xanh non biếc rờn, ngơ ngác và đầy vui sướng, Xuân Diệu đã phát hiện ra bao vẻ đẹp đáng yêu, đáng say đắm của tự nhiên và cuộc sống con người nơi trần thế mà đẹp nhất, vui nhất, lộng lẫy nhất chính là mùa xuân và tuổi trẻ:

Của ong bướm này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến anh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cưaTháng Giêng ngon như một cặp môi gần!

Từ những câu thơ ngũ ngôn ngắn gọn, khúc thơ bất ngờ chuyển sang những câu thơ tám chữ liền mạch với hàng loạt biện pháp nghệ thuật đặc sắc: điệp từ, điệp ngữ, lặp cấu trúc, liệt kê, so sánh. Âm điệu thơ sôi nổi, háo hức cuồn cuộn như dòng thác dâng trào. Phép liệt kê và điệp ngữ “này đây” lặp lại liên tiếp trong 5 câu thơ vừa gợi cái từng bừng rạo rực của tự nhiên vừa diễn tả niềm hoan hỉ, vui sướng tột độ của thi sĩ. Điệu thơ như tiếng rao vu, ngỡ ngàng sung sướng. Có cái gì như vội vàng quấn quýt, có cái gì như đắm đuối mê say. Nhà thơ như muốn nói trong cử chỉ vội vàng, trong nhịp điệu dồn dập rằng: Mọi vẻ đẹp tuyệt vời kì diệu của mùa xuân và sự sống là của chúng ta đang trong vòng tay ta, lại còn chần chừ gì nữa mà ko mau tận hưởng.

Với nhiều người, mùa xuân là mùa tuyệt diệu nhất trong 5. Bởi thế có cả một dòng xuân bất tận và quyến rũ trong thơ ca. Có thể kể ra đây “Cảnh ngày xuân” trong Truyện Kiều (Nguyễn Du), Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Mưa xuân (Nguyễn Bính), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) nhưng mà hiếm có mùa nào lộng lẫy sắc hương và rạo rực xuân tình như mảnh vườn xuân trong “Vội vàng” của Xuân Diệu. Và cũng hiếm có thi sĩ nào ham mê, đắm đuối vẻ đẹp mùa xuân như Xuân Diệu. Mùa xuân hiện ra với những thảm cỏ biếc rời mơn mởn, lá non cành tơ phơ phất, hoa nõn nà khoe sắc dâng hương, trao mật ngọt ong bướm đắm say, ái ân tình tự giữa tuần tháng mật, yến anh quấn quýt bên nhau cùng cất lên khúc tình say đắm. Và mỗi sớm sớm mai của mùa xuân mới thật lộng lẫy quyến rũ:

Và này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa

Trong trí óc non nớt thơ ngây của trẻ con, bình minh là lúc ông mặt trời thức dậy vén màn mây bước ra nhoẻn miệng cười thật tươi. Con trong hình dung của Xuân Diệu – nhà thơ lãng mạn mới nhất trong các nhà thơ mới, bình minh là lúc nữ thần mặt trời choàng tỉnh dậy sau giấc mộng êm đềm chớp chớp hàng mi. Muôn ngàn tia sáng lung linh huyền ảo từ đôi mắt ấy buông lớn̉a xuống trần gian tưới nhựa sống dào dạt cho muôn loài, trao niềm vui, gõ cửa mỗi nhà. Thế mới hiểu những khát khao của Xuân Diệu là đúng:

“Không muốn đi mãi mãi ở vườn trầnChân hóa rễ để hút mùa dưới đất”

Hoặc có lúc ông khát khao tới cháy bỏng:

“Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trờiKẻ đựng trái tim trìu máu đấtHai tay 9 móng bám vào đời”

Với Xuân Diệu, mỗi ngày sống là một ngày vui, mỗi mùa xuân là một mùa vui bất tận. Không phải đây là lần đầu tiên và duy nhất, vẻ đẹp của ánh sáng hiện ra lộng lẫy và kiêu sa như vậy. Trong “Trường ca” và “Rạo rực”, Xuân Diệu cũng lấy vẻ đẹp của người thiếu nữ để ví von, so sánh như thế:

Mi của ánh sáng thật dài, tia của ánh sáng thật đẹp

(Trường ca)

Mặt trời vừa mới cưới trời xanhDuyên đẹp bữa nay đã tốt lànhSon sẻ trời như mười sáu tuổiMá hồng phơn phớt mắt long lanh

(Rạo rực)

Cách cảm nhận vẻ đẹp của ánh mặt trời mùa xuân thật lạ, thật gợi cảm nhưng mà lại nhất phải kể đến hình ảnh ”Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Có thể nói thơ Việt chưa bao giờ có cách cảm nhận mới lạ như thế này. Thường thấy tháng Giêng đẹp, ngày xuân vui chứ chưa bao giờ thấy người nào cảm nhận là ngon như Xuân Diệu. Vẻ đẹp của tháng Giêng được thi sĩ cảm nhận ko chỉ bằng thị giác, thính giác mà còn bằng cả vị giác, xúc giác và bằng cả tâm hồn yêu đời, khát sống đến bồng bột, cuồng nhiệt. Ta thấy ở đây có dấu vết của phép tương giao trong thơ tượng trưng Pháp. Đó là màu sắc rất Tây của thơ Xuân Diệu. Chưa hết, thi sĩ còn so sánh độc và lạ gợi nhiều thú vị liên tưởng cho người đọc. Tháng Giêng ngọt ngào mê đắm như nụ hôn tình ái.

Như một thước phim sống động, khúc thơ làm hiện ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân vô cùng độc đáo và lộng lẫy: rộn rã những âm thanh tình tứ, rực rỡ ánh sáng tinh khôi, nồng nàn hương thơm sắc thắm và ngọt ngào men say ái tình. Mùa xuân có khác nào một thiên đường trên mặt đất, rạo rực sức sống, một mảnh vườn tình ái mà vạn vật đang đua nhau khoe sắc dâng hương, đắm đuối xuân tình. Như vậy, đọc những câu thơ mở đầu của “Vội vàng”, ta thấy được phần nào cái yêu đời đến cuồng nhiệt, cái khát sống đến bồng bột, mãnh liệt của Xuân Diệu. Quả ko sai lúc nói ông là nhà thơ lãng mạn mới nhất trong các nhà thơ mới.

5. Phân tích 13 câu đầu bài thơ Vội vã mẫu 2

Xuân Diệu là thi sĩ mới nhất trong các thi sĩ mới với hồn thơ điển hình cho ngôn ngữ khẩn thiết, tình yêu cuộc sống, con người và rộn rực khao khát giao cảm với đời. Thơ Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, lạ mắt trong chất liệu cũng như trong văn pháp thi ca. “Vội vã” ko chỉ là thi phẩm rực rỡ nhất trong tập thơ Thơ – bài thơ đầu tay Xuân Diệu dành tặng cho nhân gian nhưng mà còn là bài thơ hay nhất cả cuộc sống sáng tác của ông. Bài thơ vừa như 1 nguồn xúc cảm trào dâng vừa là tuyên ngôn sống của 1 thi sĩ khát khao yêu đời. 13 câu đầu là đoạn thơ hay nhất trình bày tình yêu khẩn thiết, niềm say đắm mãnh liệt của thi nhân với cuộc sống tươi đẹp nơi trần giới.

Với “Vội vã” thi sĩ đã xây lầu thơ giữa vẻ đẹp cuộc đời. Bài thơ quyến rũ người đọc ko chỉ bởi sự liên kết hài hòa, thuần thục giữa mạch xúc cảm dồi dào và mạch luận lý thâm thúy trong 1 giọng điệu sôi nổi, say đắm nhưng mà còn đem lại sự trải nghiệm mới mẻ về sự cải cách nghệ thuật lạ mắt của 1 hồn thơ mới Xuân Diệu.

Bắt đầu bài thơ tác giả bộc bạch thái độ uy nghiêm như muốn đoạt quyền tạo hóa.

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi

Điệp ngữ “tôi muốn” và thể thơ ngũ ngôn với tiết tấu nhanh, mạnh, dứt khoát đã góp phần trình bày khao khát khẩn thiết, mãnh liệt của nhà thơ. Đấy là ước vọng tắt nắng buộc gió để “màu đừng nhạt mất” để “hương đừng bay đi”. Nếu thời kì đi bằng nắng, bằng gió làm nhạt màu, làm phai hương thì thi sĩ muốn níu giữ thời kì ngưng bước, để màu sắc và hương thơm còn mãi với cuộc đời, để giữ mãi thời tươi xuân thì của tạo vật. Đấy là ước vọng bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vì đóa hoa hương sắc cuộc đời tươi thắm, ngọt ngào nhưng mà mỏng manh, ngắn ngủi biết bao. Có thể nói đằng sau ước vọng bất hợp lí đấy là 1 tâm hồn yêu người với thái độ trân trọng, nâng niu và giữ giàng.

Là 1 thi sĩ khao khát giao cảm với đời, sự mong muốn chiếm lĩnh vẻ đẹp tự nhiên của thi sĩ phải chăng khởi hành từ bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới đang mơn mởn non tơ.

Của ong bướm này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến anh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng mi

Như nghìn lời mời gọi, điệp ngữ “này đây” được lặp đi lặp lại 5 lần từ đầu tới cuối đoạn thơ trên, vừa diễn đạt sự sang giàu, phong phú vô tận của tự nhiên vừa trình bày cảm giác hoan hỉ, vui sướng của tác giả. “Này đây” là sự hiện hữu của hương sắc cuộc đời, của tự nhiên trần giới, không hề xa xăm nhưng mà gần gụi ngay trước mắt, không hề ở kiếp khác, không hề ở ngày mai hay dĩ vãng nhưng mà ngay trong khi này.

Điệp từ “của” lặp lại khiến câu thơ có vẻ hơi Tây và mới lạ. Sau từ “của” mang thuộc tính kết nối đấy bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới tuần tự xuất hiện, vườn xuân cũng là vườn yêu, vườn tình, vườn ân ái hạnh phúc. Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn rã, mải mê trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngây ngất hưởng thụ, để thi nhân tạo hóa thành nhân tình.

Chính cái nhìn trẻ, cặp mắt xanh non biếc rờn luôn lấy con người làm chuẩn mực của cái đẹp đã hình thành vẻ đẹp riêng trong bức tranh xuân của nhà thơ. Tuần tháng mật của mến thương vội chốc biến thành mùa vui của ong bướm dặt dìu, cành xuân đã hóa thành cành tơ phất phơ đầy sức sống, tiếng hót say sưa của chim yến, chim oanh biến thành điệu tình si si mê lòng người và rạng đông xuân kiều diễm mang khuôn mặt của người đẹp diễm lệ với rèm mi ánh sáng.

Bằng tâm hồn phong phú và trí hình dung dồi dào của mình với câu thơ:

“Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa”

Thi nhân đã tạo ra sự bất thần đầy thú vị bởi sự liên tưởng bất thần cực kỳ lạ mắt. Hình ảnh “thần vui hằng gõ cửa” gợi liên tưởng gần gụi với hình tượng mặt trời trong thần thoại Hy Lạp xưa, cũng có thể là vị thần mang thú vui tặng thưởng cho nhân gian vào mỗi buổi sớm sớm mai, đánh thức mọi người dậy để hưởng thụ tự nhiên, cuộc sống tươi đẹp. Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được chiêm ngưỡng ánh dương, được hưởng thụ sắc hương của vạn vật là 1 ngày hoan hỉ vui sướng. Và trong niềm hoan hỉ vui sướng ấy ngòi bút của Xuân Diệu thật sự rất xuất thần, ông đã sáng hình thành 1 câu thơ kiệt tác:

“Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”

Đây là câu thơ mới mẻ nhất, tiên tiến nhất, đã nói chung được sự quyến rũ của mùa xuân bằng sự so sánh cực kỳ lạ mắt. Có thể nói, trước Xuân Diệu, chưa có người nào “tỏ tình” với tự nhiên tương tự. Nhà thơ cảm thụ tự nhiên bằng tình đôi lứa, bằng thân xác và tâm hồn. Sự quyến rũ của tự nhiên xuất hiện trong vẻ đẹp của người yêu với “cặp môi gần” căng tràn tươi trẻ, mê đắm và lôi cuốn. Từ ngon được thốt lên đầy khao khát, nhục cảm bởi thi sĩ đã huy động mọi cảm quan: từ thị giác, thính giác, vị giác tới xúc giác để hưởng thụ tự nhiên, tuổi xanh và cuộc đời này. Phép so sánh như đã đưa cặp môi của người thanh nữ biến thành trung tâm của vũ trụ, con người biến thành chuẩn mực cho cái đẹp, là thước đo vẻ đẹp của tạo hóa. “Tháng giêng” là 1 định nghĩa thời kì vốn vô hình, nhưng mà trong phép so sánh vừa táo tợn vừa mang sắc thái biểu cảm đấy đã phát triển thành trẻ trung hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi gần của người thanh nữ đầy thâm thúy.

Nhưng ngay khi chàng nhà thơ trẻ đang ngây ngất mê đắm cực kỳ trong niềm hưởng thụ mật ngọt tình yêu nơi thiên đàng trần giới, đang thỏa thuê với bữa tiệc bự của nhân gian và reo lên “tôi phấn kích” thì cũng chính là khi thi nhân dừng lặng với cảm giác “vội vã 1 nửa”.

“Tôi phấn kích. Nhưng vội vã 1 nửa”

Câu thơ bị ngắt làm 2, thú vui ko toàn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhìn thấy rằng điều phấn kích đấy ngắn ngủi biết bao. Dự cảm mơ hồ về sự mỏng manh, ngắn ngủi của kiếp người đã làm cho thi nhân sống vội vã hưởng thụ.

“Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

Hai câu thơ được xem như 2 cái bản lề khép mở tâm cảnh vừa nhiệt tình say đắm vẻ đẹp của cuộc sống tình yêu vừa là linh tính bất an, băn khoăn đau buồn của thi sĩ vì thời kì qua mau, tuổi xanh 1 đi ko quay về, quả thực Xuân Diệu là thi sĩ của những giác quan tinh tế về thời kì.

Trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mệnh thì đây là những vần thơ xuân diệu nhất. Bằng 1 vẻ ngoài nghệ thuật điêu luyện, sự liên kết nhuần nhì giữa xúc cảm mỏng manh và mạch luận lý, giọng điệu ham mê, sôi nổi cộng với những thông minh lạ mắt về ngôn từ và hình ảnh thơ. Qua 13 câu đầu, Xuân Diệu đã mang đến 1 thông điệp mang ý nghĩa nhân bản hăng hái: Trong nhân gian này cuốn hút nhất, lôi cuốn nhất chính là con người giữa tuổi xanh và tình yêu; thiên đàng chính là cuộc sống tươi đẹp nơi trần giới. Thành ra hãy sống khẩn thiết yêu, hãy say đắm hưởng thụ và tận hiến để mỗi ngày qua đi ta được sống toàn vẹn trong tình yêu và hạnh phúc.

6. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã ngắn gọn mẫu 3

Phân tích 13 câu thơ đầu bài Vội Vàng của Xuân Diệu cho con người ta thấy được: Thời gian là 1 cái ko bao giờ quay về, nó như 1 vòng tuần hoàn, tới rồi đi. Và đi 1 cách hấp tấp, nhưng mà con người chẳng thể tự xoay chuyển nó được ấy chính là nỗi lòng của Xuân Diệu muốn nhắc đến ở đây. Xuân Diệu muốn khuyên con người chúng ta ko nên để thời kì trôi qua 1 cách vô dụng nhưng mà phải biết quý trọng, tôn trọng thời kì.

Bắt đầu bài thơ, là 1 nỗi lòng của chính tác giả các động từ tắt, buộc có thể có thể nói nếu là 1 vật dụng thì có thể con người làm được, nhưng mà cái nhưng mà tác giả muốn tắt, muốn buộc lại ấy là hương thơm, là nhựa sống cái nắng mới của tự nhiên của đất trời.

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi.

Qua 4 câu thơ này, tác giả muốn nhấn mạnh rằng cái nhưng mà của tự nhiên đất trời ko bao giờ chúng ta giữ nó lại được. Và nó sẽ mãi đi, liên hoàn như 1 vòng tuần hoàn. Ở các câu thơ còn lại ấy là 1 bức tranh tự nhiên và số mệnh của mỗi con người. ở đây tác giả muốn nói lúc sống chúng ta phải biết chiêm ngưỡng vẽ đẹp, cuộc sống của tự nhiên, đừng để nó ấy nhưng mà ko có người nào chiêm ngưỡng hay tận hưởng. Các từ ngữ giàu sức phong phú và chân thật. của các loài động vật bé nhỏ nhưng mà đủ để con người ta nhìn nhận và bình chọn về cuộc sống muôn màu của tự nhiên.

Của bướm ong này đây tuần tháng mật;Này đây hoa của đồng nội xanh biếc;Này đây lá của cành tơ phất phơ;Của yến oanh này đây khúc tình si.Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần;Tôi phấn kích. Nhưng vội vã 1 nửa:Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Bến cạnh quang cảnh của tự nhiên ấy, là sự ra đi của con người cũng ko biết là khi nào. Khi vui thì thần cửa tới gõ cửa khi nào ko hay có thể nói sự chết sống của con người dựa dẫm vào số mệnh vận mệnh của người ấy. Như vậy mình ko biết cuộc đời của mình ra sao thì hãy cồ gắng chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của tự nhiên. Đừng bao giờ để nó trôi đi 1 cách hấp tấp và vô dụng.

Qua đoạn thơ này, tác giả muốn nói rằng, con người lúc còn trẻ phải biết tận hưởng, đừng để thời kì bỏ phí đi. Kế bên ấy còn nhấn mạnh lúc bự tuổi rồi thì sự chết sống của chúng ta ko biết ra đi vào khi nào. Thành ra cần phải tôn trọng trị giá của cuộc sống, tôn trọng thời kì.

7. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 4

Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu, dù ấy là tình yêu gì đi chăng nữa thì nó vẫn ngọt ngào đầy cảm xúc. Ông còn được bình chọn là thi sĩ mới nhất trong những thi sĩ mới. Những sáng tác, những bài thơ của ông mang đến cho người đọc 1 sự yêu đời, thú vui về cuộc sống và 1 niềm khát khao cuộc sống tới mãnh liệt cộng với ấy là 1 hồn thơ mới lạ, đem lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ. Trong số ấy, điển hình có bài thơ Vội vã là 1 trong những bài thơ hay trình bày tư tưởng đáng quý ấy của tác giả, và 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên cho người đọc. Những tư tưởng triết lí cũng thế nhưng mà được gửi gắm thành tâm thiên nhiên.

Để mang niềm yêu cuộc sống tới trào dâng, thi sĩ luôn có xúc cảm vội vã trước cuộc sống ngắn ngủi. Mọi thứ trên đời mang vị ngọt đến nhưng mà chỉ 1 lần rồi thôi, ta đâu có đủ thời kì cho những quả ngọt ấy được nếm 1 lần nữa. Không vội vã, ko chạy đến để ôm trọn những gì đang có thì làm sao nhưng mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ 5 chữ độc nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như 1 hơi thở lập cập của 1 con người đang chứa chan xúc cảm. Đại từ nhưng mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở trước hết là tôi, chứ không hề “ta” hay chúng ta và cộng với ấy là động từ “ muốn”- “ tôi muốn. Nhà thơ đang trình bày cái tôi công khai, ngang nhiên ko trốn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thử thách, đi trái lại với thơ ca trung đại, rất ít dám trình bày cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chính là 1 điểm mới của thi sĩ trong nền văn thơ hiện khi bấy giờ. Qua ấy trình bày khao khát mãnh liệt về cuộc sống

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi”

Yêu cuộc sống này bởi vậy mọi thứ tác giả muốn làm ấy có thể là tắt nắng đi, buộc gió lại. Những từ “ tắt” buộc” được sử dụng cho những điều hữu hình cầm nắm được vậy nhưng mà tác giả lại phục vụ những sự vật ko bao giờ chúng ta có thể làm được. Ta có thể thấy màu vàng của nắng, cảm thu được hơi ấm từ nó, gió có thể thổi qua, táp vào mặt, mơn man da thịt, có thể thấy gió đong đưa bên những cành liễu.. nhưng mà chẳng bao giờ cầm được nắng nắm được gió. 1 điều tưởng nghe đâu bất hợp lí ấy nhưng mà lại biến thành khao khát của tác giả. Những thứ ấy để làm gì: “ để hương đời đừng nhạt đi, để màu sắc cuộc sống vẫn vẹn nguyên, ko úa tàn”Từng chữ 1 của 4 câu thơ đều nói lên nỗi ham sống tới vô bờ, tột bực tới phát triển thành cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật cả trong nhịp của câu thơ, trình bày ở chỗ câu thơ đang 5 chữ bỗng chuyển xuống 8 chữ.

Đây là 1 biến đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt ta bức tranh xuân tuyệt diệu. 4 dòng thơ đấy đầy ắp những tiếng “này đây, vừa trùng trùng vừa biến hoá. Những câu thơ gợi ra 1 con người đang mê mệt, si mê, rối rít trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đấy ko chỉ là 1 bức tranh xuân, còn là cách để tác giả nhắc đến cái mê đắm về 1 mùa xuân của tuổi xanh, của tình yêu.

Thành ra, “bướm ong, yến oanh”được nhắc đến đây, bởi nó gợi ra vẻ lơi lả, tình tứ, và “bướm lả ong lơi “gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi nhân tình và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Kế bên ấy, chữ “của” trở đi quay về được tác giả như dụng cộng với “này đây” như 1 cặp chẳng thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu thị xúc cảm trước tự nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật vấn vít lấy nhau, là của nhau chẳng thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và nhựa sống tròn trặn có đôi có cặp. Những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “Hoa nở” trên nền “xanh biếc” của đồng nội rộng lớn, “lá” của “cành tơ” đầy sức trẻ và sức sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn đấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phất phơ ” ở sau. Cuộc sống xuất hiện trong hình ảnh của 1 vườn địa đàng, trong cảm xúc của 1 thú vui trần giới.

Câu thơ thứ 9 hiện ra bằng 3 chữ “và này đây”, như thể 1 người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn ngừng lại. Đây ko còn là những hình sắc chi tiết như “lá, hoa, bướm ong” nhưng mà trừu tượng hơn là ánh sáng, thú vui, thời kì – những vật thể ko hữu hình. Không chỉ sử dụng những hình ảnh mang tính tượng trưng cao, cách nhưng mà Xuân Diệu gieo vào lòng người còn là những thứ nhưng mà con người cần phải quý trọng. Vẻ đẹp của tự nhiên chỉ được coi là đẹp lúc mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Đấy chính là vẻ đẹp của “hàng mi” của 1 đôi mắt đẹp. Nhưng có nhẽ nét lạ mắt của 13 câu thơ chính là 2 câu thơ mang tính so sánh cao

Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần.

Hình ảnh so sánh thật thú vị và đầy bất thần, thời kì cuốn hút nhất của mùa xuân lại được coi như 1 cặp môi gần, vừa đem lại sự ham mê, sự quyến rũ nhưng mà còn là sự say đi.

Dưới con mắt của kẻ si tình, mùa xuân xuất hiện thật đẹp, thật gợi cảm. Nó còn được tác giả đi liền với từ “ngon” mặc dầu ko ăn được, ko chạm được nhưng mà lại “ngon”. Mùa xuân như sinh ra cho con người hưởng thụ, cho hạnh phúc tới với con người, thời kì trừu tượng mới phát triển thành gần gụi, bởi vậy mùa xuân hiện lên trong xúc cảm của 1 tâm hồn đang thèm muốn hưởng thụ. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu.

Hình ảnh so sánh đấy như 1 người đang đợi chờ, chuẩn bị hiến dâng cho tình yêu. Chính vì vậy tác giả mới thốt lên nhưng mà lại chùng xuống và có vẻ nuối tiếc:

“Tôi phấn kíchNhưng vội vã 1 nửa”

Và rồi ở những câu tiếp theo, tác giả nêu ra vì sao lại phấn kích nhưng mà lại vội vã:

Xuân đương tới tức là xuân đương quaXuân còn non tức là xuân sẽ già.

Cái mới của bài thơ và cả quan niệm của Xuân Diệu trong bài thơ được thấy rõ và phát hiện. Tưởng chừng nó giống như 1 quy luật phổ biến người nào cũng biết nhưng mà đặt trong trường hợp này, nó lại là cả 1 công đoạn chiêm nghiệm và nhận thức. Tác giả đã để 2 vế tưởng như trái ngược nhau lại biến thành ngang hàng: “đang đến” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Đây là cách nói đầy ấn tượng hình thành sự trôi mau gấp rút cực kỳ của thời kì. Điều này càng có ý nghĩa với 1 người nhưng mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được trình bày với đẳng thức thứ 3, vừa có cảm giác khiếp sợ, lại nuối tiếc nhưng mà cũng có cảm giác như giục giã phải sống sao cho ko phí hoài tuổi xanh, bởi xuân hết thì tôi cũng ko còn nữa..

Và xuân hết tức là tôi cũng mất.

Bằng những nét vẽ cực kỳ chân thật, lạ mắt, Xuân Diệu đã tái tạo lại quang cảnh cực kỳ lãng mạn, 1 thiên đàng dưới mặt đất. Dưới con mắt tinh tế, mẫn cảm của thi sĩ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng mà cuộc sống đấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vã để hưởng thụ hết thú vui và hạnh phúc của cuộc sống. Qua đây tác giả cũng trình bày và gửi gắm tư tưởng sáng sủa yêu đời nhưng mà tác giả đã tạo ra cho lứa tuổi trẻ, cần phải sống, ham mê hết mình để hiến dâng cho tuổi xanh.

8. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 5

Tới với Xuân Diệu – thi sĩ có nguồn cội hòa hợp giữa vùng gió Lào cát trắng cộng với sự siêng năng của xứ Nghệ.

Cha đằng ngoài, mẹ đằng trongÔng đồ nghề lấy cô hàng nước mắm.

Cả đời Xuân Diệu là cả đời lao động nghệ thuật ko khi nào dừng bút. Đối với ông sự sống ko bao giờ chán nản. Là con người xứ Nghệ siêng năng, nhẫn nại, lao động và thông minh nghệ thuật. Xuân Diệu là thi sĩ mới nhất cả về nội dung lẫn nghệ thuật trong nền văn chương hiện nay. “Vội vã” là 1 trong những tác phẩm thơ xuất xắc của ông. Bài thơ cũng là lời thúc giục sống mãnh liệt, sống hết mình. Hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, trình bày khát vọng sống của tác giả. Tới với 13 câu thơ đầu chúng ta sẽ thấy rõ được sự táo tợn và đầy lãng mạn của thi sĩ. Do vậy, ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình.”

Tôi muốn tắt nắng đi……………………………..Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân

“Vội vã” được in trong tập “Thơ thơ”, là 1 trong những bài thơ điển hình nhất của Xuân Diệu trước cách mệnh tháng 8, bức thông điệp nhưng mà Xuân Diệu gửi tới cho người đọc qua từng phần của bài thơ, theo mạch xúc cảm của tác giả. Ngay từ đầu ta bắt gặp 1 thái độ sống:

Tôi muốn tắt nắng đi………………………………Cho hương đừng bay xa

Bắt đầu bài thơ là 1 khổ ngũ ngôn trình bày 1 ước vọng kì dị của nhà thơ. Đó là ước vọng quay ngược quy luật thiên nhiên, 1 ước vọng chẳng thể, cực kỳ táo tợn. Tôi muốn “tắt nắng”, “buộc gió” là những điều cực kỳ kì lạ, nhưng mà cực kỳ lạ mắt nhưng mà chỉ có mình Xuân Diệu mới nghĩ ra. Xuân Diệu muốn tắt nắng, muốn buộc gió để giữ lại những cái đẹp, cái tươi thắm của sự vật, của màu, của hương, của cả thời kì. Tác giả chỉ muốn giữ lại thời kì cho riêng mình, để thi sĩ có thể ngắm nhìn và hưởng thụ những điều ấy. Nhà thơ đã đẩy cái tôi chủ quan của mình để làm chỉnh sửa được quy luật của thiên nhiên. Muốn níu giữ thời kì để ngưng động cái ko gian, ý nghĩ ấy táo tợn nhưng mà cực kỳ lãng mạn. Điệp ngữ “tôi muốn” làm nổi trội cái khát vọng mãnh liệt của cuộc sống bởi tự nhiên mùa xuân đầy tươi đẹp và đầy nhựa sống.

Của bướm ong này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành lớn phất phới.

Cả ko gian như được điểm tô 1 màu xanh non tươi mơn mởn, màu xanh của đồng nội, màu xanh của lá non, màu xanh của cành lớn phất phới, liên kết hài hòa khiến cho bức tranh tự nhiên dạt dào nhựa sống, sinh động, có hồn và phát triển thành tươi mới hơn nhờ vào tiếng hót của loài chim yến oanh.

Của yến oanh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Tiếng chim cất lên tâng bừng rộn ràng hình thành 1 khúc nhạc tình si trong ko gian tràn trề ánh sáng. Mùa xuân tâng bừng, mùa xuân rộn ràng đã dần tới cho thi sĩ 1 thú vui, niềm thèm muốn nắm bắt và muốn tận hưởng mỗi sáng.

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửaTháng giêng ngon như 1 cặp môi gần

Cảm nhận của thi sĩ cũng thật lạ mắt lúc tới với con người. Lâu nay người ta chỉ nói mùa xuân đẹp, mùa xuân tươi và chứa chan nhựa sống nhưng mà chưa người nào nói “mùa xuân ngon”. Nhà thơ Xuân Diệu, với ông mùa xuân ko chỉ cảm nhận bằng thị giác nhưng mà tác giả còn sử dụng giải pháp so sánh để so sánh thật chi tiết “cặp môi gần”. Điều ấy trình bày sự nồng cháy trần giới của con người. Những cặp môi gần đấy, nó ghi lại vào thời kì, xuân đã biến thành 1 quả nhân nhưng mà người nghị viên là nhân tình. Chính ý tưởng ấy đã trẻ hóa toàn cầu già nua, cũ kĩ, khiến cho nó phát triển thành thật mới mẻ. Bức tranh nhà thơ vẽ ra như 1 thiên đàng đầy mật ngọt, nó ko còn đó, ko xa vắng, ko mờ ảo nhưng mà nó hiển hiện với hơi thở với nhịp độ sống ngay giữa cuộc đời trần giới để cho con người mở lòng mình ra nhưng mà hưởng thụ.

Với Xuân Diệu cái gì cũng mới lạ và bằng cặp mắt xanh non của ông của cái tôi tư nhân, Xuân Diệu đã phát xuất hiện toàn cầu này cuốn hút nhất vẫn là vì có con người. Cuộc đời cuốn hút nhất là vào khi tuổi xuân. Và con người chỉ hưởng thụ được điều đấy khi còn trẻ. Song tuổi xanh sẽ tàn phai theo thời kì vì vậy nhưng mà ông phải sống vội vã và gấp gáp.

Tôi phấn kích nhưng mà vội vã 1 nửaTôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Tới đây ta đã hiểu được tại sao nhưng mà nhà thơ muốn can hệ vào những quy luật muôn thuở của tạo hóa để không hề là 1 ước vọng ngông cuồng nông nổi. Nhưng là khát vọng cháy bỏng của thi nhân, ước vọng bất diệt hóa của cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vị của cuộc sống.

Bài thơ là 1 quan niệm sống mới mẻ và táo tợn nhưng mà trước đây chưa từng có. Tới với “Vội Vàng” Xuân Diệu kêu gọi mọi người hãy biết yêu và hưởng thụ những thứ cuộc sống tặng thưởng. Hãy tranh thủ khi còn trẻ để thừa hưởng đầy đủ nhất. Ông ko quên đi trách nhiệm kêu gọi mọi người phải hiến dâng cho cuộc đời. Và trong cuộc đời của ông vội vã hiến dâng chứ không hề vội vã hưởng thụ. Đối với mỗi người chúng ta trong cuộc sống ngày nay không hề người nào cũng biết sống có mong ước, có hoài bão, đôi lúc chỉ là sống để còn đó, sống lạc loài. Đã sống là phải biết sống có mục tiêu, có mong ước, hoài bão. Khi ấy ta mới nhìn thấy cuộc sống này ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn.

9. Phân tích 13 câu đầu bài thơ Vội vã mẫu 7

Trong suốt quá trình nhưng mà phong trào thơ mới nở rộ 1 cách mạnh bạo với sự có mặt trên thị trường của các cây bút có sức thông minh, sức trẻ hình như làm lấn lướt cả 1 nền thơ cổ vốn ngự trị trên non sông hàng nghìn 5. Trong ấy người ta chẳng thể ko đề cập những cái tên điển hình như Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên,… mỗi người 1 vẻ, người nào cũng tạo cho mình 1 chỗ đứng chắc chắn trên thi đàn Việt Nam khi bấy giờ. Và Xuân Diệu đã tới, đã mang đến cho làng thơ mới 1 làn gió lạ, nhận luôn cái danh hiệu “thi sĩ mới nhất trong các thi sĩ mới” nhưng mà Hoài Thanh đã viết những câu rất lôi cuốn như sau: “Hiện thời khó nhưng mà nói hết được cái kinh ngạc của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu tới. Người đã đến giữa chúng ta với 1 trang phục tối tân và chúng ta đã e lệ ko muốn làm thân với con người có vẻ ngoài phương xa đấy,…”. Thơ Xuân Diệu sở dĩ mới lạ là ở cái cách người xây dựng và khai thác chủ đề, giữa 1 loạt các thi sĩ mới tương tự, nhưng mà chỉ có 1 mình Xuân Diệu có cái giọng thơ nồng cháy, say đắm lúc nói về mùa xuân về tình yêu về cuộc đời tương tự. Có thể nói rằng “Thơ Xuân Diệu còn là 1 nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn non nước âm thầm này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vã, sống rối rít, muốn hưởng thụ cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như lúc buồn người đều nồng cháy, thiết tha”. Ở Vội vã người ta thấy rõ được cái chất thơ đấy của Xuân Diệu, đặc trưng là 13 câu thơ đầu, chính là cái cách thi sĩ cảm nhận và hưởng thụ bức tranh tự nhiên, bức tranh mùa xuân, kèm theo ấy là bức tranh tình yêu 1 cách nồng cháy và thiết tha cực kỳ.

Thơ Xuân Diệu không hề người nào cũng cảm thu được cái hay của nó, bởi thỉnh thoảng người ta thấy nó sao dập dồn, sao vội vã và đôi lúc quá chừng “trần trụi” khiến những thi sĩ thời đấy khó chấp thuận, bởi nó mới lạ, mang âm hưởng Pháp nhưng mà lúc đọc vào lại thấy đậm vị quê hương. Nó giống như 1 món ăn vị lạ, khó để nói thành lời, nhưng mà cái người ta ko diễn giải được thì người ta sẽ gạt đi. Ngược lại với những người nào đã yêu thơ Xuân Diệu thì lại mê lắm, và gần như đấy là những người trẻ tuổi, họ có chung 1 nỗi niềm muốn sống “nhanh” muốn hưởng thụ cho trọn hứng của thi sĩ. Và “với 1 thi sĩ còn gì quý bằng sự hoan nghênh của tuổi xanh”.

Ngay từ những dòng thơ đầu Xuân Diệu đã ko ngại ngần nhưng mà biểu thị cái niềm khát khao mãnh liệt của mình giữa cuộc đời.

“Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi”.

Đấy là những khát khao có phần ngông cuồng và táo tợn, đúng với cái phong cách của Xuân Diệu. Nhà thơ muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió”, muốn đi trái lại với quy luật của đất trời, bởi trên tất cả Xuân Diệu tinh thần được rằng, chẳng có màu nắng nào đẹp bằng nắng của mùa xuân, cũng chẳng có gì thanh mát, xuất sắc như hương hoa cỏ thoảng đưa trong gió biếc. Thế nên ông nhớ tiếc lắm, giả dụ nắng tàn phai, giả dụ gió cuốn hết hương hoa ngọt ngào, thì còn đâu cái mùa xuân tươi đẹp, xinh xắn – thứ nhưng mà ông vẫn hằng trông mong, khát khao và níu giữ cả cuộc đời bằng tất cả say đắm, thiết tha nữa. Chính vì vậy, thi sĩ đã biểu thị cái khao khát cháy bỏng được đi trái lại với quy luật khe khắt của tạo hóa, vượt lên trên tầm vóc của đất trời vũ trụ để lưu lại cho đời những thứ xuất sắc, tốt cuốn hút nhất. Đó là màu nắng nhàn nhạt, êm dịu đượm sắc xuân, đấy là hương thơm diệu kỳ của muôn đóa hoa đặc sắc, đại diện cho 1 trời xuân đang nở rộ. Nhưng chính ra là Xuân Diệu đang cố “tắt nắng đi”, đang muốn “buộc gió lại” để hòng ủ ấp lấy chúng nhưng mà thưởng thức 1 mình, chứ đã nghĩ tới người nào gì cho cam! Xuân Diệu chính là thi sĩ có cái lòng “ích kỷ” kỳ lạ đời như thế, đi giành giật, khát khao thứ nhưng mà hậu thế chẳng mấy người chú ý 1 cách rối rít và hấp tấp, khiến người ta thương nhưng mà ko trách được. Có thể nói rằng, ở trong 4 câu thơ đầu người ta thấy nổi lên 2 cái “tôi” rất lôi cuốn, 1 cái tôi ngông cuồng, mạnh bạo dám thử thách cả tạo hóa, đất trời để đạt được khát vọng tư nhân. Và 1 cái tôi cũng rất mực thơ ngây, hồn nhiên như 1 đứa trẻ, xốc nổi và có những ảo tưởng rất mực hoang đường, nhưng mà lại rất trẻ trung và tràn ngập nhựa sống. Tổng hòa 2 cái tôi tưởng nghe đâu riêng biệt đấy lại đem lại cho thi sĩ 1 chân dung riêng, 1 màu sắc riêng trong toàn cầu thi ca vốn lắm kẻ thiên tài này.

Sau 4 câu thơ bắt đầu, biểu thị khát vọng mãnh liệt, nồng cháy của thi sĩ về mùa xuân thì 9 câu thơ tiếp theo chính là bức tranh tự nhiên mùa xuân trong đôi mắt tình tứ của Xuân Diệu.

“Của bướm ong này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến oanh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửaTháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”

Bức tranh tự nhiên mùa xuân của 1 con người tình mùa xuân như Xuân Diệu quả thật có những cái tinh tế, những cái đẹp khác với người thường. Nhà thơ cảm nhận mùa xuân phê chuẩn nhiều cảm quan, để đưa ra những nét vẽ chân thật và chân thật và cũng có 1 sự logic nhất mực. Cùng lúc phê chuẩn âm điệu của bài thơ, cộng với điệp khúc “Này đây…” người ta dễ dãi liên tưởng tới tới 1 khúc ca mùa xuân với những âm điệu rộn rã, nhưng mà tác giả là người có tâm hồn phóng khoáng, say đắm với từng lời ca. Bắt đầu người ta thấy bức tranh tự nhiên hiện lên với hình ảnh bướm dập dờn tung cánh khoe điệu vũ, ong thì mải miết tìm kiếm mật ngọt, thứ vốn là kết tinh quý giá của thiên nhiên. Và nếu đã có ong, có bướm, lại có cả mật ngọt thì tất nhiên hình ảnh hoa cỏ đặc sắc, và “đồng nội xanh biếc” mở ra ko gian tự nhiên bao la là chẳng thể nào thiếu được.

Đã có hoa, thì đâu thể thiếu lá để điểm tô thêm cho bức tranh được hoàn chỉnh, hình ảnh “lá của cành tơ phất phơ”, người ta thấy 1 cái gì ấy mềm mại lắm, tươi trẻ lắm, gợi ra 1 mùa xuân vừa mới chớm, rất tình tứ và gợi cảm. Về phần hình là vậy, về phần âm thanh, Xuân Diệu đã rất tinh tế lúc chọn “khúc tình si” của yến oanh – vốn là loài chim biểu tượng cho mùa xuân làm bản nhạc đệm cho bức tranh tự nhiên thêm rộn rã. Thế nhưng mà tất cả sẽ thật u ám, nếu thiếu đi cái ánh sáng, cái màu nắng nhàn nhạt của đất trời khi vào xuân. Xuân Diệu viết “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, ánh sáng chớp hàng mi là gì sao nghe lạ quá, nhưng mà đứng dưới cương vị của thi sĩ, ấy là thứ ánh sáng xuất sắc và ấm áp, tươi đẹp biết bao, để người ta ko nỡ lòng tránh đi nhưng mà đứng ngay giữa đất trời để hưởng thụ cảm giác nắng bao trùm cơ thể, thấy được nắng xuyên qua rèm mi buông. Không quá gắt, ko quá chói như nắng hạ, cũng ko u ám, ưu sầu như đông, ấy là thứ ánh sáng vừa đủ mỹ lệ, vừa đủ ấm áp làm tôn lên vẻ đẹp của bức tranh tự nhiên mùa xuân trong lòng tác giả. Xuân Diệu vẽ vài nét vậy thôi, thế nhưng mà người ta đã liên tưởng tới 1 khu vườn đậm sắc, đậm hương với những gam màu tươi trẻ, với những âm thanh rộn rã, và với cả thứ ánh sáng ấm áp, dịu dàng đáng khát khao. Có thể nói rằng xuân đẹp như thế, thì có tiếc gì nhưng mà người ta ko khát khao, ko nguyện vọng chứ.

Và tất nhiên rằng trong thơ của Xuân Diệu thì không thể nào thiếu vắng đi dáng hình của tình yêu được, bởi thiếu tình yêu thì hình như bức tranh tự nhiên mùa xuân vốn đại diện cho tuổi xanh cũng phát triển thành nhạt nhòa, thiếu nhựa sống. Cái tài của Xuân Diệu đấy là lồng ghép 3 từ “tuổi xanh” “mùa xuân” và “tình yêu” vào trong 1 ý thơ, người ta ko cần đọc nhiều nhưng mà cũng đã thấy đủ cả 3 nhân tố đấy. Xuân Diệu luôn để cho bức tranh của mình được tương thích, sự vật nào cũng có đôi có cặp và phát ra những tín hiệu của tình yêu của tuổi xanh. Nếu như ong thì tất nhiên là đi đôi với bướm, và thi sĩ gợi ra nhân tố tình yêu trong cụm “tuần tháng mật” nghĩa là chỉ phút giây ngọt ngào hạnh phúc nhất của những lứa đôi yêu nhau say đắm. Hoặc là hoa thì cũng thành 1 cặp với “đồng nội xanh biếc”, rất tương thích, gam màu đặc sắc của hoa lá liên kết với màu xanh mênh mông của đồng nội cỏ, gợi ra nghĩ tới 1 tình yêu vừa dịu dàng, êm ả, vừa có những cảm xúc cháy bỏng, nồng cháy. “Lá của cành tơ phất phơ” ta lại nghĩ tới những con người trẻ tuổi, đang đeo đuổi tình yêu, kẻ lôi cuốn, thướt tha người trầm mê si mê, cũng rất có phong vị yêu đương.

Tới “yến oanh” thì đã quá rõ ràng, bởi chúng vốn đã là 1 cặp nhân tình chung tình, biết bao đời nay người ta vẫn thường ca tụng, góc cạnh tình yêu ở đây lại được biểu thị qua âm sắc của “khúc tình si”, ngọt ngào, thâm thúy và đầy say đắm. Cuối cùng tới câu “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, câu thơ đem lại cho chúng ta nhiều liên tưởng thú vị? Ta cứ tạm phân ra 2 trường hợp, nếu người có rèm mi đấy là 1 cô gái xuân sắc, đang độ đôi mươi, thì chắc hẳn là người nhưng mà Xuân Diệu hằng để mắt, hằng khát khao 1 tình yêu xuất sắc. Hoặc giả dụ là thi sĩ, thì có nhẽ rằng tình yêu của ông chính là mùa xuân, chính là cuộc đời tươi trẻ đang hằng hiện trước mắt. Và có nhẽ đúng thế tâm thành yêu trong thơ của Xuân Diệu ko chỉ hữu hạn trong tình yêu lứa đôi, nhưng mà nó còn là tình yêu với tự nhiên, với cây cối, tình yêu với cuộc đời với tuổi xanh 1 cách thâm thúy và thấm thía. Thế nên lúc thấy Xuân Diệu nuối tiếc, khát khao thì thường thấy những thứ đấy trở đi quay về trong thơ ông. Nhận định này có thể dễ dãi chứng minh qua 2 câu thơ cuối đoạn “Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa/ Tháng Giêng ngon như 1 cặp môi gần”.

Tôi biết có rất nhiều người, mỗi buổi sớm thức dậy đối với họ là sự mỏi mệt đang đón nhận, công tác và sức ép cuộc sống chồng chất, người ta thỉnh thoảng chỉ muốn được nhắm mắt nhắm mũi thêm chút nữa. Nhưng Xuân Diệu thì khác, ông có 1 trái tim tâm huyết, nồng cháy, 1 niềm tin yêu vào cuộc sống, thế nên đối với ông mỗi 1 buổi sáng đã là 1 thú vui quý giá, và cái người ta cần làm là hưởng thụ nó cho thỏa sức. Kế bên ấy niềm khát khao mãnh liệt của thi sĩ với mùa xuân cũng gần giống như cái cách nhưng mà người trẻ đeo đuổi tình yêu vậy, rất nồng cháy, rất say đắm thế nên tháng Giêng tháng của mùa xuân nó cũng quyến rũ, căng tràn nhựa sống như đôi môi ngọt ngào căng mọng của thanh nữ độ 2 mươi vậy.

Như vậy có thể thấy trong 13 câu thơ đầu Xuân Diệu vừa biểu thị cái tôi tư nhân đặc trưng của mình cùng lúc cũng bộc bạch nỗi lòng khát khao mãnh liệt về mùa xuân tình yêu và tuổi xanh phê chuẩn bức tranh quang cảnh mùa xuân đầy đủ hương, sắc, vị. Thông qua ấy tác giả còn cho chúng ta nhìn thấy 1 chân lý rằng cái đẹp của tạo hóa luôn ngự trị ở bao quanh chúng ta, chứ không hề là 1 chốn thần tiên, cõi phật nào cả, vấn đề là con người có đủ tình yêu, sự tinh tế để cảm nhận và hưởng thụ chúng hay ko nhưng mà thôi.

10. Cảm nhận 13 câu đầu bài Vội vã

Thơ Xuân Diệu là “vườn mơn trớn”, ca tụng tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ. Xuân Diệu là thi sĩ điển hình nhất, là đại biểu đầy đủ nhất cho phong trào thơ mới, bởi cái phong cách rất riêng khó có thể trùng lặp với người nào, 1 cá tính thơ rất Xuân Diệu, mới cả về nội dung và vẻ ngoài. “Với những vần thơ ít lời nhưng mà nhiều ý, hàm súc nhưng mà đọng lại bao lăm tinh hoa, Xuân Diệu là 1 tay thợ biết khiến cho ta kinh ngạc vì nghệ thuật dai sức và cần cù”. Đặc trưng khổ thơ trước hết trong bài thơ “Vội vã” là 1 trong những bài thơ của nhà thơ đã biểu thị cái tôi trữ tình lạ mắt, đầy sức thông minh của nhà thơ Xuân Diệu.

Bài thơ “Vội vã” được nhà thơ Xuân Diệu lấy cảm hứng từ vẻ đẹp của mùa xuân, của tình yêu và của lòng người. Xuân Diệu đã rất tinh tế lúc nhìn thấy vẻ đẹp của tự nhiên trong mùa xuân, nó làm cho lòng người lâng lâng và chẳng thể cưỡng lại nổi sức hút hút.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của bướm ong này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh biếc

Này đây lá của cành tơ phất phơ

Của bướm ong này đây khúc tình si.

Bắt đầu bài thơ, Xuân Diệu đã trình bày 1 ước vọng kì dị tới ngông cuồng: “Tôi muốn tắt nắng/ tôi muốn buộc gió”. Đấy là những ước vọng kì dị bởi tắt nắng, buộc gió là công tác của tạo hóa thiên nhiên. Thi sĩ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa. Là bởi tắt nắng “cho màu đừng nhạt”, buộc gió ”cho hương đừng bay đi”. Hóa ra trong niềm ước cực kỳ ngộ nghĩnh, ngông cuồng đấy thi sĩ muốn bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp mãi mãi lên hương tỏa sắc giữa cuộc đời này.

Thật vậy mọi thứ trên đời mang vị ngọt đến nhưng mà chỉ 1 lần rồi thôi, ta đâu có đủ thời kì cho những quả ngọt ấy được nếm 1 lần nữa. Với Xuân Diệu ko vội vã, ko chạy đến để ôm trọn những gì đang có thì làm sao nhưng mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ 5 chữ độc nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như 1 hơi thở lập cập của 1 con người đang chứa chan xúc cảm. Đại từ nhưng mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở trước hết là tôi, chứ không hề “ta” hay chúng ta và cộng với ấy là động từ “muốn” – “tôi muốn. Nhà thơ đang trình bày cái tôi công khai, ngang nhiên ko trốn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thử thách, đi trái lại với thơ ca trung đại, rất ít dám trình bày cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chính là 1 điểm mới của thi sĩ trong nền văn thơ hiện khi bấy giờ, qua ấy trình bày khao khát mãnh liệt về cuộc sống. Ông muốn ôm hết xuân sắc của đời để sống, để yêu mãnh liệt hơn nữa.

Hình ảnh của cuộc sống đi vào thơ Xuân Diệu như 1 thứ ánh sáng được khúc xạ qua lăng kính tình yêu rất tinh khôi và giàu nhựa sống. Càng yêu đời, thi sĩ càng luyến tiếc trước dòng chảy của thời kì. Thời điểm vạn vật đang căng tràn sức sống cũng chính là khi đang đứng trên ranh giới của sự lụi tàn, héo úa. Vì vậy từ những câu thơ gãy gọn ở khổ đầu, thi sĩ đi vào khổ 2 với những câu thơ dài, âm điệu chậm như bước chân người thoải mái dạo ngắm vườn xuân muốn hưởng thụ giờ phút huy hoàng đấy. Thi sĩ từ tốn chỉ cho người đọc những gì tinh hoa, tươi cuốn hút nhất của nhân gian với 1 thái độ kính yêu, trân trọng ”này đây”. Mạch xúc cảm được chuyển tiếp sang 1 bức tranh tình yêu chứa chan màu sắc:

Của bướm ong này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh biếc

Này đây lá của cành tơ phất phơ

Của yến oanh này đây khúc tình si

Thành ra, “bướm ong, yến oanh” được nhắc đến đây, bởi nó gợi ra vẻ lơi lả, tình tứ và “bướm lả ong lơi“ gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi nhân tình và hơn thế “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Kế bên ấy, chữ “của” trở đi quay về được tác giả như dụng cộng với “này đây” như 1 cặp chẳng thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu thị xúc cảm trước tự nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật vấn vít lấy nhau, là của nhau chẳng thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và nhựa sống tròn trặn có đôi có cặp.những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “Hoa“ nở trên nền “xanh biếc“ của đồng nội rộng lớn, “lá” của “cành tơ” đầy sức trẻ và sức sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn đấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “tơ phất phơ” ở sau. Cuộc sống xuất hiện trong hình ảnh của 1 khu vườn tự nhiên chân thật đầy sắc màu, trong cảm xúc của 1 thú vui trần giới.

Điệp từ “này đây” đứng đầu câu và được nhắc đi nhắc lại 4 lần vừa mang thuộc tính liệt kê, vừa mang thuộc tính khẳng định, nhấn mạnh vừa như muốn sở hữu những vẻ đẹp đang chứa chan ở ngoài kia. Sau mỗi từ “này đây” là 1 loạt những hình ảnh tươi đẹp xuất hiện “hoa của đồng nội xanh biếc”, “lá của cành tơ phất phơ”. Đấy đều là những hình ảnh đặc thù của mùa xuân, của những gì thanh khiết và tươi cuốn hút nhất. Tất cả những hình ảnh đấy làm cho nhà thơ chạnh lòng và muốn sở hữu. Đây có thể nói là khao khát, là ước vọng mãnh liệt nhất nhưng mà Xuân Diệu đang muốn sở hữu.

Chính cái nhìn của ”cặp mắt xanh non biếc rờn” luôn lấy con người giữa mùa xuân, tuổi xanh và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp đã hình thành vẻ riêng lạ mắt trong bức tranh mùa xuân của nhà thơ. Chúng ta có thể nhận thấy thi sĩ mô tả ong bướm đang sống trong tuần tháng mật, cành xuân thì thành cành tơ đầy nhựa sống, tiếng hát của yến oanh cũng thành điệu tình si rộn rã. Tất cả vạn vật đều đang trong tình trạng hạnh phúc. Và táo tợn nhất là cách so sánh “Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần” thật gần gụi và gợi cảm. Dưới con mắt “xanh non” của nhà thơ, mùa xuân tựa như 1 cô gái diễm lệ, hồng hào, tình tứ đầy quyến rũ.

Với ngôn từ gọt giũa, mượt nhưng mà, Xuân Diệu hình như đang thổi hồn vào từng câu, từng chữ của đoạn thơ khiến nó phát triển thành sinh động và quyến rũ. Bức tranh tự nhiên tươi vui, đầy màu sắc đang tràn ra qua từng câu thơ. Điệp từ “này đây” biểu thị thú vui tươi phất phới, hoan hỉ của tác giả lúc được say đắm trong quang cảnh xuất sắc như thế này.

Xuân Diệu đã vẽ lên trước mắt người đọc cả toàn cầu chân thật, trình bày “nguồn sống dạt dào”. Xuân Diệu là 1 hồn thơ yêu đời và tài giỏi. Thi sĩ đã vẽ lên trong tâm khảm người đọc 1 bức tranh tự nhiên nơi trần giới tuyệt đẹp.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin bổ ích khác trên phân mục Tài liệu của KTHN VN.

TagsVăn học

#Top #mẫu #phân #tích #câu #đầu #bài #Vội #vàng #siêu #hay

[rule_2_plain]

#Top #mẫu #phân #tích #câu #đầu #bài #Vội #vàng #siêu #hay

[rule_2_plain]

#Top #mẫu #phân #tích #câu #đầu #bài #Vội #vàng #siêu #hay

[rule_3_plain]

#Top #mẫu #phân #tích #câu #đầu #bài #Vội #vàng #siêu #hay

Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã của Xuân Diệu để thấy được khao khát sống mãnh liệt, niềm yêu tự nhiên thâm thúy của tác giả trong cuộc sống. Sau đây là dàn ý phân tách 13 câu đầu bài Vội vã cùng mẫu phân tách 13 câu đầu bài Vội vã hay thâm thúy sẽ là tài liệu học tập hữu dụng cho các bạn.

Top 7 mẫu cảm nhận bài thơ Vội vã hay nhất
Top 6 bài phân tách bài thơ Vội vã siêu hay

Vội vã là tác phẩm điển hình cho cá tính thơ của Xuân Diệu, tác phẩm được trích từ tập Thơ Thơ (đây là tập thơ đầu tay của Xuân Diệu). Vội vã như 1 lời thúc giục của 1 tâm hồn trẻ dạt dào mến thương, khao khát sống và ham mê cuộc đời mãnh liệt.

Chỉ với 13 câu đầu bài Vội vã, Xuân Diệu đã cho người đọc cảm thu được tình mến thương khẩn thiết nơi trần giới, làm sống dậy những nét lôi cuốn, vẻ đẹp diệu kì của tự nhiên. Trong bài viết Hoatieu xin san sẻ bài văn phân tách 13 câu đầu bài Vội vã, cảm nhận 13 câu đầu bài Vội vã hay và cụ thể để độc giả thông suốt hơn về nội dung và nghệ thuật 13 câu đầu Vội vã.

1. Dàn ý bài phân tách 13 câu đầu bài Vội vã

a. Mở bài

– Sơ lược về tác giả Xuân Diệu

– Dẫn vào phân tách 13 câu thơ đầu của Vội vã

b. Thân bài:

4 câu thơ đầu: Nhưng khát khao lạ đời cùng 2 cái “tôi’ của Xuân Diệu.

– Muốn “tắt nắng”, “buộc gió” để lưu giữ cho cuộc đời những gì cuốn hút nhất, tinh thần được sự quý giá, vẻ đẹp của nắng xuân của hương hoa cỏ.

– Sự hiện ra của cái tôi ngông cuồng, thử thách cả vũ trụ hòa quyện với cái tôi hồn nhiên, yêu đời đem lại 1 hồn thơ Xuân Diệu rất riêng.

Bức tranh tự nhiên mùa xuân:

Nhà thơ cảm nhận mùa xuân phê chuẩn nhiều cảm quan, để đưa ra những nét vẽ chân thật và chân thật và cũng có 1 sự logic nhất mực.

– Điệp khúc “Này đây…” khiến người độc liên tưởng tới 1 khúc ca say đắm, vui mừng.

– Bức tranh mùa xuân của Xuân Diệu được gợi lên từ những cảnh sắc cực kỳ phổ biến nhưng mà lại mang vẻ đẹp tràn ngập nhựa sống:

+ Hình ảnh ong, bướm cùng mật ngọt, gam màu đặc sắc của muôn loài hoa liên kết với cái màu xanh biếc tươi mới của đồng nội cỏ, sự mềm mại uyển chuyển của “cành tơ phất phơ”, sự rộn ràng, mê ly trong “khúc tình si” của cặp yến oanh.

+ “ánh sáng chớp hàng mi” khiến người đọc có nhiều liên tưởng về 1 thứ ánh sáng tuyệt diệu, dịu dàng bao trùm khắp ko gian.

Bức tranh tuổi xanh, tình yêu:

– Mỗi sự vật trong bức tranh mùa xuân của Xuân Diệu đều có đôi có cặp: ong đi với bướm say đắm ngọt ngào, trẻ trung trong “tuần tháng mật”, hoa hòa quyện với đồng nội đem lại cảm giác tình yêu phóng khoáng và thấu hiểu, chứa chan sức xuân, lá đi với “cành tơ phất phơ” trình bày tình yêu lôi cuốn, mềm mại và thướt tha, yến oanh là mối tình chung tình, gắn bó với “khúc tình si”

– “Ánh sáng chớp hàng mi”: Gợi liên tưởng tới hình ảnh thanh nữ khép hờ mắt dưới ánh nắng sớm mai, mang dáng vẻ hình hài trẻ trung, son sắc là niềm ham mê của thi sĩ.

– Tình yêu ko chỉ nằm trong phạm vi tình yêu 5 nữ nhưng mà còn trình bày ở cả tình yêu với tự nhiên, với cuộc đời nhưng mà Xuân Diệu xúc động viết “Tháng Giêng ngon như 1 cặp môi hồng”, trình bày nỗi khao khát cháy bỏng với mùa xuân, với tuổi xanh.

c. Kết bài:

Nêu cảm nhận tư nhân.

2. Dàn ý bài phân tách 13 câu đầu bài Vội vã cụ thể

a) Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

Xuân Diệu là thi sĩ của mùa xuân, tình yêu và tuổi xanh, 1 trong những thi sĩ bự của Việt Nam nổi danh từ phong trào Thơ mới.

“Vội vã” là 1 trong những bài thơ hoàn hảo nhất trình bày tình yêu cuộc sống thiết tha, quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu.

– Khái quát nội dung 13 câu đầu Vội vã : Ước vọng táo tợn cùng tâm cảnh hoan hỉ chào đón nhưng mà rồi lại vội vã và rối rít trước sự lưu loát của thời kì.

b) Thân bài:

* Luận điểm 1: Khao khát lưu giữ vẻ đẹp của tự nhiên

– Trong thơ ca trung đại ít có thi sĩ nào dám khẳng định cái tôi tư nhân của mình 1 cách táo tợn nhưng mà lúc tới với phong trào Thơ mới, cái tôi Xuân Diệu đã biểu thị 1 cách cực kỳ lạ mắt:

“Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi”.

Mùa xuân là mùa tươi cuốn hút nhất trong 5 cũng như tuổi xanh là khoảng thời kì cuốn hút nhất trong cuộc đời mỗi con người.

4 dòng thơ ngũ ngôn như lời đề từ của bài thơ, khẳng định ước vọng đoạt quyền tạo hóa của thi nhân.

“Nắng” mùa xuân là ánh sáng đặc sắc, ấm áp và tươi vui, “hương” mùa xuân là nơi tinh hoa của đất trời, của vạn vật kết tinh, tụ hội.

Hành động “tắt nắng”, “buộc gió” là những mong muốn hình như ko tài nào tiến hành được bởi lẽ nó đi trái lại với những quy luật vốn có của thiên nhiên.

– Xuân Diệu muốn ngăn cản bước đi của thời kì để lưu giữ những phút giây cuốn hút nhất, đáng nhớ nhất.

Thi sĩ khát khao giữ lại ánh nắng để “màu đừng nhạt mất”, giữ lại gió để cuộc sống luôn tràn trề sắc hương.

Điệp cấu trúc “Tôi muốn… để”, động từ mạnh “tắt”, “buộc” cộng với nhịp thơ nhanh, dập dồn, trình bày khát khao mãnh liệt, lập cập, muốn mau chóng ko để những vẻ đẹp tạo hóa vụt mất khỏi tầm tay.

Nếu thời kì đi bằng nắng, bằng gió làm nhạt màu, làm phai hương thì thi sĩ muốn níu giữ thời kì dừng bước, để màu sắc và hương thơm còn mãi với cuộc đời, để giữ mãi thời tươi xuân thì của tạo vật.

Cũng do đó, khát khao này cũng trình bày sự ham sống xốc nổi tới mãnh liệt và quan niệm về thời kì của ông: Thời gian tuyến tính 1 chiều, lúc đã trôi qua rồi thì ko quay về nên thi sĩ có khát khao giữ nắng, giữ gió để hưởng thụ hết vẻ đẹp của đất trời.

=> Đấy là ước vọng bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vì đóa hoa hương sắc cuộc đời tươi thắm, ngọt ngào nhưng mà mỏng manh, ngắn ngủi biết bao. Có thể nói đằng sau ước vọng bất hợp lí đấy là 1 tâm hồn yêu người với thái độ trân trọng, nâng niu và giữ giàng.

* Luận điểm 2: Bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp

– Từ thể thơ 4 chữ, thi sĩ chuyển sang những câu thơ 8 chữ, nhịp thơ như trải tỏ ra, chậm chạp, nhẹ nhõm như nhịp tâm hồn nhà thơ đang hưởng thụ những tinh hoa của đất trời mùa xuân

– Điệp ngữ “này đây” được lặp đi lặp lại 5 lần như 1 lời mời gọi, liên kết với thủ pháp liệt kê, vừa diễn đạt sự sang giàu, phong phú vô tận của tự nhiên vừa trình bày cảm giác hoan hỉ, vui sướng của tác giả.

– “Này đây” là sự hiện hữu của hương sắc cuộc đời, của tự nhiên trần giới, không hề xa xăm nhưng mà gần gụi ngay trước mắt, không hề ở ngày mai hay dĩ vãng nhưng mà ngay trong hiện nay khi này.

– Điệp từ “của” lặp lại mang thuộc tính kết nối khiến cho bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới tuần tự xuất hiện, lại thêm phần phong phú, sang giàu.

– Nhà thơ sử dụng 1 loạt giải pháp tu từ nhân hoá, dùng những danh từ thuộc về con người (“tuần tháng mật”, “khúc tình si”) để mô tả tự nhiên, liên kết với “bướm ong”, “yến oanh” được gọi tên như đôi như lứa làm cho vườn xuân bỗng đầy mơ mộng, lãng mạn, vườn xuân cũng là vườn yêu, vườn tình, vườn ân ái hạnh phúc.

– Tính từ “xanh biếc”, “phất phơ” giàu sức gợi tả vẽ nên cảnh tự nhiên mùa xuân non tơ, chứa chan nhựa sống

=> Bức tranh xuân ko chỉ có cảnh vật xinh tươi nhưng mà còn chứa chan ánh sáng và thú vui, hình ảnh “ánh sáng chớp hàng mi” và “thần vui” cực kỳ gợi cảm. Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được chiêm ngưỡng ánh dương, được hưởng thụ sắc hương của vạn vật là 1 ngày hoan hỉ vui sướng

– Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn rã, mải mê trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngây ngất hưởng thụ, để thi nhân tạo hóa thành nhân tình:

“Tháng Giêng non như 1 cặp môi gần”

Câu thơ sử dụng nghệ thuật ẩn biến đổi cảm giác, hay chính là phép giao thoa nhưng mà thơ Mới tiếp nhận được từ thơ ca biểu tượng PhápĐây là câu thơ mới mẻ nhất, tiên tiến nhất, đã nói chung được sự quyến rũ của mùa xuân bằng sự so sánh cực kỳ lạ mắt. Nhà thơ cảm thụ tự nhiên bằng tình đôi lứa, bằng thân xác và tâm hồn.

– Sự quyến rũ của tự nhiên xuất hiện trong vẻ đẹp của người yêu với “cặp môi gần” căng tràn tươi trẻ, mê đắm và lôi cuốn.

Từ “ngon” được thốt lên đầy khao khát, và ham mê, là sự cảm nhận sâu nhất bằng mọi cảm quan

Phép so sánh như đã đưa cặp môi của người thanh nữ biến thành trung tâm của vũ trụ, con người biến thành chuẩn mực cho cái đẹp, là thước đo vẻ đẹp của tạo hóa.

“Tháng giêng” là 1 định nghĩa thời kì vốn vô hình, nhưng mà trong phép so sánh vừa táo tợn vừa mang sắc thái biểu cảm đấy đã phát triển thành trẻ trung hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi gần của người thanh nữ.

=> Nhà thơ đã trình bày quan niệm của mình 1 cách thật thâm thúy: Nếu trong thơ ca Trung đại, các thi nhân lấy tự nhiên để làm chuẩn mực cho cái đẹp của con người thì tới với Xuân Diệu, con người mới là chuẩn mực cho mọi cái đẹp còn đó trên cuộc đời này, và thiên đàng không hề là những chốn thiên thai xa xăm, mê hoặc nào ấy, nhưng mà chính là nơi đây, chính mặt đất trần giới mới là thiên đàng của tình yêu, của cái đẹp và của tuổi xanh.

* Luận điểm 3: Tâm cảnh của nhà thơ

– Ngay khi chàng nhà thơ trẻ đang ngây ngất mê đắm cực kỳ trong niềm hưởng thụ mật ngọt tình yêu nơi thiên đàng trần giới, đang thỏa thuê với bữa tiệc bự của nhân gian và reo lên “tôi phấn kích” thì cũng chính là khi thi nhân dừng lặng với cảm giác “vội vã 1 nửa”.

– Câu thơ bị ngắt làm 2, thú vui ko toàn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhìn thấy rằng điều phấn kích đấy ngắn ngủi biết bao. Dự cảm mơ hồ về sự mỏng manh, ngắn ngủi của kiếp người đã làm cho thi nhân sống vội vã hưởng thụ.

=> Hai câu thơ được xem như 2 cái bản lề khép mở tâm cảnh vừa nhiệt tình say đắm vẻ đẹp của cuộc sống tình yêu vừa là linh tính bất an, băn khoăn đau buồn của thi sĩ vì thời kì qua mau, tuổi xanh 1 đi ko quay về, quả thực Xuân Diệu là thi sĩ của những giác quan tinh tế về thời kì.

c) Kết bài

Khái quát lại nội dung 13 câu thơ đầu Vội vã.

Nêu cảm nhận của em.

3. Lược đồ tư duy phân tách 13 câu đầu bài Vội vã

4. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 1

Nhà thơ Thế Lữ đã từng có nhận xét khá tinh tế về Xuân Diệu: “Xuân Diệu là 1 người của đời, 1 người hầu giữa nhân loại. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của 1 tấm lòng nhân gian”. Có thể nói, Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam một “bộ y phục tối tân”, táo 3̣o, một “cảm hứng dạt dào chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này”. Cứ mỗi độ xuân về, trái tim non của những thế hệ trẻ lại rung lên với cảm xúc yêu đời tha thiết, mãnh liệt trước lời ru yêu đời mà thấm thía của Xuân Diệu. Một trong những lời ru yêu đời thấm thía ấy được gửi gắm qua tác phẩm “Vội vàng” – một 3̀i thơ tiêu biểu cho phong cách thơ độc đáo của Xuân Diệu. Cả 3̀i thơ là niềm yêu đời mãnh liệt, lòng ham sống đến bồng bột, cuồng nhiệt. Đến với 13 câu đầu trong “Vội vàng”, chúng ta sẽ thấy rõ được ước muốn táo 3̣o, kì lạ của thi sĩ và bức tranh xuân – vẻ đẹp thiên đường trên mặt đất.

Rút ra từ tập “Thơ thơ”, Vội vàng là thi phẩm kết tinh vẻ đẹp hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8. Mở đầu 3̀i thơ là khổ thơ ngũ ngôn thể hiện ước muốn cháy bỏng của thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đimàu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi

Câu thơ ngắn, nhịp thơ nhanh liên tiếp các điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc, khổ thơ như khúc ca sôi nổi, ham mê về những ước muốn khát khao cất lên từ trái tim của thi sĩ. Muốn tắt nắng, muốn buộc gió để màu đừng nhạt, hương đừng phai, nghĩa là Xuân Diệu muốn níu giữ mãi hương thơm sắc thắm, muốn bất tử hóa vẻ đẹp mùa xuân nơi trần thế. Nghĩa là Xuân Diệu muốn mãi mãi một mùa xuân tuyệt vời. Ham muốn, khát vọng của thi sĩ thật vô cùng lãng mạn. Phải là một hồn thơ yêu đời ham sống mãnh liệt đến vô bờ mới có những ham muốn bồng bột, táo 3̣o ấy.

Là một nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời, ham mê cuộc đời bằng một niềm yêu đời mãnh liệt, bằng cặp mắt xanh non biếc rờn, ngơ ngác và đầy vui sướng, Xuân Diệu đã phát hiện ra bao vẻ đẹp đáng yêu, đáng say đắm của tự nhiên và cuộc sống con người nơi trần thế mà đẹp nhất, vui nhất, lộng lẫy nhất chính là mùa xuân và tuổi trẻ:

Của ong bướm này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến anh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cưaTháng Giêng ngon như một cặp môi gần!

Từ những câu thơ ngũ ngôn ngắn gọn, khúc thơ bất ngờ chuyển sang những câu thơ tám chữ liền mạch với hàng loạt biện pháp nghệ thuật đặc sắc: điệp từ, điệp ngữ, lặp cấu trúc, liệt kê, so sánh. Âm điệu thơ sôi nổi, háo hức cuồn cuộn như dòng thác dâng trào. Phép liệt kê và điệp ngữ “này đây” lặp lại liên tiếp trong 5 câu thơ vừa gợi cái từng bừng rạo rực của tự nhiên vừa diễn tả niềm hoan hỉ, vui sướng tột độ của thi sĩ. Điệu thơ như tiếng rao vu, ngỡ ngàng sung sướng. Có cái gì như vội vàng quấn quýt, có cái gì như đắm đuối mê say. Nhà thơ như muốn nói trong cử chỉ vội vàng, trong nhịp điệu dồn dập rằng: Mọi vẻ đẹp tuyệt vời kì diệu của mùa xuân và sự sống là của chúng ta đang trong vòng tay ta, lại còn chần chừ gì nữa mà ko mau tận hưởng.

Với nhiều người, mùa xuân là mùa tuyệt diệu nhất trong 5. Bởi thế có cả một dòng xuân bất tận và quyến rũ trong thơ ca. Có thể kể ra đây “Cảnh ngày xuân” trong Truyện Kiều (Nguyễn Du), Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Mưa xuân (Nguyễn Bính), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) nhưng mà hiếm có mùa nào lộng lẫy sắc hương và rạo rực xuân tình như mảnh vườn xuân trong “Vội vàng” của Xuân Diệu. Và cũng hiếm có thi sĩ nào ham mê, đắm đuối vẻ đẹp mùa xuân như Xuân Diệu. Mùa xuân hiện ra với những thảm cỏ biếc rời mơn mởn, lá non cành tơ phơ phất, hoa nõn nà khoe sắc dâng hương, trao mật ngọt ong bướm đắm say, ái ân tình tự giữa tuần tháng mật, yến anh quấn quýt bên nhau cùng cất lên khúc tình say đắm. Và mỗi sớm sớm mai của mùa xuân mới thật lộng lẫy quyến rũ:

Và này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa

Trong trí óc non nớt thơ ngây của trẻ con, bình minh là lúc ông mặt trời thức dậy vén màn mây bước ra nhoẻn miệng cười thật tươi. Con trong hình dung của Xuân Diệu – nhà thơ lãng mạn mới nhất trong các nhà thơ mới, bình minh là lúc nữ thần mặt trời choàng tỉnh dậy sau giấc mộng êm đềm chớp chớp hàng mi. Muôn ngàn tia sáng lung linh huyền ảo từ đôi mắt ấy buông lớn̉a xuống trần gian tưới nhựa sống dào dạt cho muôn loài, trao niềm vui, gõ cửa mỗi nhà. Thế mới hiểu những khát khao của Xuân Diệu là đúng:

“Không muốn đi mãi mãi ở vườn trầnChân hóa rễ để hút mùa dưới đất”

Hoặc có lúc ông khát khao tới cháy bỏng:

“Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trờiKẻ đựng trái tim trìu máu đấtHai tay 9 móng bám vào đời”

Với Xuân Diệu, mỗi ngày sống là một ngày vui, mỗi mùa xuân là một mùa vui bất tận. Không phải đây là lần đầu tiên và duy nhất, vẻ đẹp của ánh sáng hiện ra lộng lẫy và kiêu sa như vậy. Trong “Trường ca” và “Rạo rực”, Xuân Diệu cũng lấy vẻ đẹp của người thiếu nữ để ví von, so sánh như thế:

Mi của ánh sáng thật dài, tia của ánh sáng thật đẹp

(Trường ca)

Mặt trời vừa mới cưới trời xanhDuyên đẹp bữa nay đã tốt lànhSon sẻ trời như mười sáu tuổiMá hồng phơn phớt mắt long lanh

(Rạo rực)

Cách cảm nhận vẻ đẹp của ánh mặt trời mùa xuân thật lạ, thật gợi cảm nhưng mà lại nhất phải kể đến hình ảnh ”Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”. Có thể nói thơ Việt chưa bao giờ có cách cảm nhận mới lạ như thế này. Thường thấy tháng Giêng đẹp, ngày xuân vui chứ chưa bao giờ thấy người nào cảm nhận là ngon như Xuân Diệu. Vẻ đẹp của tháng Giêng được thi sĩ cảm nhận ko chỉ bằng thị giác, thính giác mà còn bằng cả vị giác, xúc giác và bằng cả tâm hồn yêu đời, khát sống đến bồng bột, cuồng nhiệt. Ta thấy ở đây có dấu vết của phép tương giao trong thơ tượng trưng Pháp. Đó là màu sắc rất Tây của thơ Xuân Diệu. Chưa hết, thi sĩ còn so sánh độc và lạ gợi nhiều thú vị liên tưởng cho người đọc. Tháng Giêng ngọt ngào mê đắm như nụ hôn tình ái.

Như một thước phim sống động, khúc thơ làm hiện ra trước mắt người đọc một bức tranh xuân vô cùng độc đáo và lộng lẫy: rộn rã những âm thanh tình tứ, rực rỡ ánh sáng tinh khôi, nồng nàn hương thơm sắc thắm và ngọt ngào men say ái tình. Mùa xuân có khác nào một thiên đường trên mặt đất, rạo rực sức sống, một mảnh vườn tình ái mà vạn vật đang đua nhau khoe sắc dâng hương, đắm đuối xuân tình. Như vậy, đọc những câu thơ mở đầu của “Vội vàng”, ta thấy được phần nào cái yêu đời đến cuồng nhiệt, cái khát sống đến bồng bột, mãnh liệt của Xuân Diệu. Quả ko sai lúc nói ông là nhà thơ lãng mạn mới nhất trong các nhà thơ mới.

5. Phân tích 13 câu đầu bài thơ Vội vã mẫu 2

Xuân Diệu là thi sĩ mới nhất trong các thi sĩ mới với hồn thơ điển hình cho ngôn ngữ khẩn thiết, tình yêu cuộc sống, con người và rộn rực khao khát giao cảm với đời. Thơ Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, lạ mắt trong chất liệu cũng như trong văn pháp thi ca. “Vội vã” ko chỉ là thi phẩm rực rỡ nhất trong tập thơ Thơ – bài thơ đầu tay Xuân Diệu dành tặng cho nhân gian nhưng mà còn là bài thơ hay nhất cả cuộc sống sáng tác của ông. Bài thơ vừa như 1 nguồn xúc cảm trào dâng vừa là tuyên ngôn sống của 1 thi sĩ khát khao yêu đời. 13 câu đầu là đoạn thơ hay nhất trình bày tình yêu khẩn thiết, niềm say đắm mãnh liệt của thi nhân với cuộc sống tươi đẹp nơi trần giới.

Với “Vội vã” thi sĩ đã xây lầu thơ giữa vẻ đẹp cuộc đời. Bài thơ quyến rũ người đọc ko chỉ bởi sự liên kết hài hòa, thuần thục giữa mạch xúc cảm dồi dào và mạch luận lý thâm thúy trong 1 giọng điệu sôi nổi, say đắm nhưng mà còn đem lại sự trải nghiệm mới mẻ về sự cải cách nghệ thuật lạ mắt của 1 hồn thơ mới Xuân Diệu.

Bắt đầu bài thơ tác giả bộc bạch thái độ uy nghiêm như muốn đoạt quyền tạo hóa.

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi

Điệp ngữ “tôi muốn” và thể thơ ngũ ngôn với tiết tấu nhanh, mạnh, dứt khoát đã góp phần trình bày khao khát khẩn thiết, mãnh liệt của nhà thơ. Đấy là ước vọng tắt nắng buộc gió để “màu đừng nhạt mất” để “hương đừng bay đi”. Nếu thời kì đi bằng nắng, bằng gió làm nhạt màu, làm phai hương thì thi sĩ muốn níu giữ thời kì ngưng bước, để màu sắc và hương thơm còn mãi với cuộc đời, để giữ mãi thời tươi xuân thì của tạo vật. Đấy là ước vọng bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vì đóa hoa hương sắc cuộc đời tươi thắm, ngọt ngào nhưng mà mỏng manh, ngắn ngủi biết bao. Có thể nói đằng sau ước vọng bất hợp lí đấy là 1 tâm hồn yêu người với thái độ trân trọng, nâng niu và giữ giàng.

Là 1 thi sĩ khao khát giao cảm với đời, sự mong muốn chiếm lĩnh vẻ đẹp tự nhiên của thi sĩ phải chăng khởi hành từ bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới đang mơn mởn non tơ.

Của ong bướm này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến anh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng mi

Như nghìn lời mời gọi, điệp ngữ “này đây” được lặp đi lặp lại 5 lần từ đầu tới cuối đoạn thơ trên, vừa diễn đạt sự sang giàu, phong phú vô tận của tự nhiên vừa trình bày cảm giác hoan hỉ, vui sướng của tác giả. “Này đây” là sự hiện hữu của hương sắc cuộc đời, của tự nhiên trần giới, không hề xa xăm nhưng mà gần gụi ngay trước mắt, không hề ở kiếp khác, không hề ở ngày mai hay dĩ vãng nhưng mà ngay trong khi này.

Điệp từ “của” lặp lại khiến câu thơ có vẻ hơi Tây và mới lạ. Sau từ “của” mang thuộc tính kết nối đấy bức tranh tự nhiên tươi đẹp nơi thiên đàng trần giới tuần tự xuất hiện, vườn xuân cũng là vườn yêu, vườn tình, vườn ân ái hạnh phúc. Thiên nhiên tạo vật say sưa, rộn rã, mải mê trao gửi sắc hương, xui khiến lòng người ngây ngất hưởng thụ, để thi nhân tạo hóa thành nhân tình.

Chính cái nhìn trẻ, cặp mắt xanh non biếc rờn luôn lấy con người làm chuẩn mực của cái đẹp đã hình thành vẻ đẹp riêng trong bức tranh xuân của nhà thơ. Tuần tháng mật của mến thương vội chốc biến thành mùa vui của ong bướm dặt dìu, cành xuân đã hóa thành cành tơ phất phơ đầy sức sống, tiếng hót say sưa của chim yến, chim oanh biến thành điệu tình si si mê lòng người và rạng đông xuân kiều diễm mang khuôn mặt của người đẹp diễm lệ với rèm mi ánh sáng.

Bằng tâm hồn phong phú và trí hình dung dồi dào của mình với câu thơ:

“Mỗi buổi sớm, thần vui hằng gõ cửa”

Thi nhân đã tạo ra sự bất thần đầy thú vị bởi sự liên tưởng bất thần cực kỳ lạ mắt. Hình ảnh “thần vui hằng gõ cửa” gợi liên tưởng gần gụi với hình tượng mặt trời trong thần thoại Hy Lạp xưa, cũng có thể là vị thần mang thú vui tặng thưởng cho nhân gian vào mỗi buổi sớm sớm mai, đánh thức mọi người dậy để hưởng thụ tự nhiên, cuộc sống tươi đẹp. Với Xuân Diệu mỗi ngày được sống, được chiêm ngưỡng ánh dương, được hưởng thụ sắc hương của vạn vật là 1 ngày hoan hỉ vui sướng. Và trong niềm hoan hỉ vui sướng ấy ngòi bút của Xuân Diệu thật sự rất xuất thần, ông đã sáng hình thành 1 câu thơ kiệt tác:

“Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”

Đây là câu thơ mới mẻ nhất, tiên tiến nhất, đã nói chung được sự quyến rũ của mùa xuân bằng sự so sánh cực kỳ lạ mắt. Có thể nói, trước Xuân Diệu, chưa có người nào “tỏ tình” với tự nhiên tương tự. Nhà thơ cảm thụ tự nhiên bằng tình đôi lứa, bằng thân xác và tâm hồn. Sự quyến rũ của tự nhiên xuất hiện trong vẻ đẹp của người yêu với “cặp môi gần” căng tràn tươi trẻ, mê đắm và lôi cuốn. Từ ngon được thốt lên đầy khao khát, nhục cảm bởi thi sĩ đã huy động mọi cảm quan: từ thị giác, thính giác, vị giác tới xúc giác để hưởng thụ tự nhiên, tuổi xanh và cuộc đời này. Phép so sánh như đã đưa cặp môi của người thanh nữ biến thành trung tâm của vũ trụ, con người biến thành chuẩn mực cho cái đẹp, là thước đo vẻ đẹp của tạo hóa. “Tháng giêng” là 1 định nghĩa thời kì vốn vô hình, nhưng mà trong phép so sánh vừa táo tợn vừa mang sắc thái biểu cảm đấy đã phát triển thành trẻ trung hữu hình qua vẻ đẹp cặp môi gần của người thanh nữ đầy thâm thúy.

Nhưng ngay khi chàng nhà thơ trẻ đang ngây ngất mê đắm cực kỳ trong niềm hưởng thụ mật ngọt tình yêu nơi thiên đàng trần giới, đang thỏa thuê với bữa tiệc bự của nhân gian và reo lên “tôi phấn kích” thì cũng chính là khi thi nhân dừng lặng với cảm giác “vội vã 1 nửa”.

“Tôi phấn kích. Nhưng vội vã 1 nửa”

Câu thơ bị ngắt làm 2, thú vui ko toàn vẹn. Bởi Xuân Diệu nhìn thấy rằng điều phấn kích đấy ngắn ngủi biết bao. Dự cảm mơ hồ về sự mỏng manh, ngắn ngủi của kiếp người đã làm cho thi nhân sống vội vã hưởng thụ.

“Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.”

Hai câu thơ được xem như 2 cái bản lề khép mở tâm cảnh vừa nhiệt tình say đắm vẻ đẹp của cuộc sống tình yêu vừa là linh tính bất an, băn khoăn đau buồn của thi sĩ vì thời kì qua mau, tuổi xanh 1 đi ko quay về, quả thực Xuân Diệu là thi sĩ của những giác quan tinh tế về thời kì.

Trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mệnh thì đây là những vần thơ xuân diệu nhất. Bằng 1 vẻ ngoài nghệ thuật điêu luyện, sự liên kết nhuần nhì giữa xúc cảm mỏng manh và mạch luận lý, giọng điệu ham mê, sôi nổi cộng với những thông minh lạ mắt về ngôn từ và hình ảnh thơ. Qua 13 câu đầu, Xuân Diệu đã mang đến 1 thông điệp mang ý nghĩa nhân bản hăng hái: Trong nhân gian này cuốn hút nhất, lôi cuốn nhất chính là con người giữa tuổi xanh và tình yêu; thiên đàng chính là cuộc sống tươi đẹp nơi trần giới. Thành ra hãy sống khẩn thiết yêu, hãy say đắm hưởng thụ và tận hiến để mỗi ngày qua đi ta được sống toàn vẹn trong tình yêu và hạnh phúc.

6. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã ngắn gọn mẫu 3

Phân tích 13 câu thơ đầu bài Vội Vàng của Xuân Diệu cho con người ta thấy được: Thời gian là 1 cái ko bao giờ quay về, nó như 1 vòng tuần hoàn, tới rồi đi. Và đi 1 cách hấp tấp, nhưng mà con người chẳng thể tự xoay chuyển nó được ấy chính là nỗi lòng của Xuân Diệu muốn nhắc đến ở đây. Xuân Diệu muốn khuyên con người chúng ta ko nên để thời kì trôi qua 1 cách vô dụng nhưng mà phải biết quý trọng, tôn trọng thời kì.

Bắt đầu bài thơ, là 1 nỗi lòng của chính tác giả các động từ tắt, buộc có thể có thể nói nếu là 1 vật dụng thì có thể con người làm được, nhưng mà cái nhưng mà tác giả muốn tắt, muốn buộc lại ấy là hương thơm, là nhựa sống cái nắng mới của tự nhiên của đất trời.

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi.

Qua 4 câu thơ này, tác giả muốn nhấn mạnh rằng cái nhưng mà của tự nhiên đất trời ko bao giờ chúng ta giữ nó lại được. Và nó sẽ mãi đi, liên hoàn như 1 vòng tuần hoàn. Ở các câu thơ còn lại ấy là 1 bức tranh tự nhiên và số mệnh của mỗi con người. ở đây tác giả muốn nói lúc sống chúng ta phải biết chiêm ngưỡng vẽ đẹp, cuộc sống của tự nhiên, đừng để nó ấy nhưng mà ko có người nào chiêm ngưỡng hay tận hưởng. Các từ ngữ giàu sức phong phú và chân thật. của các loài động vật bé nhỏ nhưng mà đủ để con người ta nhìn nhận và bình chọn về cuộc sống muôn màu của tự nhiên.

Của bướm ong này đây tuần tháng mật;Này đây hoa của đồng nội xanh biếc;Này đây lá của cành tơ phất phơ;Của yến oanh này đây khúc tình si.Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần;Tôi phấn kích. Nhưng vội vã 1 nửa:Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Bến cạnh quang cảnh của tự nhiên ấy, là sự ra đi của con người cũng ko biết là khi nào. Khi vui thì thần cửa tới gõ cửa khi nào ko hay có thể nói sự chết sống của con người dựa dẫm vào số mệnh vận mệnh của người ấy. Như vậy mình ko biết cuộc đời của mình ra sao thì hãy cồ gắng chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của tự nhiên. Đừng bao giờ để nó trôi đi 1 cách hấp tấp và vô dụng.

Qua đoạn thơ này, tác giả muốn nói rằng, con người lúc còn trẻ phải biết tận hưởng, đừng để thời kì bỏ phí đi. Kế bên ấy còn nhấn mạnh lúc bự tuổi rồi thì sự chết sống của chúng ta ko biết ra đi vào khi nào. Thành ra cần phải tôn trọng trị giá của cuộc sống, tôn trọng thời kì.

7. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 4

Xuân Diệu là ông hoàng của tình yêu, dù ấy là tình yêu gì đi chăng nữa thì nó vẫn ngọt ngào đầy cảm xúc. Ông còn được bình chọn là thi sĩ mới nhất trong những thi sĩ mới. Những sáng tác, những bài thơ của ông mang đến cho người đọc 1 sự yêu đời, thú vui về cuộc sống và 1 niềm khát khao cuộc sống tới mãnh liệt cộng với ấy là 1 hồn thơ mới lạ, đem lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ. Trong số ấy, điển hình có bài thơ Vội vã là 1 trong những bài thơ hay trình bày tư tưởng đáng quý ấy của tác giả, và 13 câu đầu đã để lại những ấn tượng khó quên cho người đọc. Những tư tưởng triết lí cũng thế nhưng mà được gửi gắm thành tâm thiên nhiên.

Để mang niềm yêu cuộc sống tới trào dâng, thi sĩ luôn có xúc cảm vội vã trước cuộc sống ngắn ngủi. Mọi thứ trên đời mang vị ngọt đến nhưng mà chỉ 1 lần rồi thôi, ta đâu có đủ thời kì cho những quả ngọt ấy được nếm 1 lần nữa. Không vội vã, ko chạy đến để ôm trọn những gì đang có thì làm sao nhưng mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ 5 chữ độc nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như 1 hơi thở lập cập của 1 con người đang chứa chan xúc cảm. Đại từ nhưng mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở trước hết là tôi, chứ không hề “ta” hay chúng ta và cộng với ấy là động từ “ muốn”- “ tôi muốn. Nhà thơ đang trình bày cái tôi công khai, ngang nhiên ko trốn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thử thách, đi trái lại với thơ ca trung đại, rất ít dám trình bày cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chính là 1 điểm mới của thi sĩ trong nền văn thơ hiện khi bấy giờ. Qua ấy trình bày khao khát mãnh liệt về cuộc sống

Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mấtTôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi”

Yêu cuộc sống này bởi vậy mọi thứ tác giả muốn làm ấy có thể là tắt nắng đi, buộc gió lại. Những từ “ tắt” buộc” được sử dụng cho những điều hữu hình cầm nắm được vậy nhưng mà tác giả lại phục vụ những sự vật ko bao giờ chúng ta có thể làm được. Ta có thể thấy màu vàng của nắng, cảm thu được hơi ấm từ nó, gió có thể thổi qua, táp vào mặt, mơn man da thịt, có thể thấy gió đong đưa bên những cành liễu.. nhưng mà chẳng bao giờ cầm được nắng nắm được gió. 1 điều tưởng nghe đâu bất hợp lí ấy nhưng mà lại biến thành khao khát của tác giả. Những thứ ấy để làm gì: “ để hương đời đừng nhạt đi, để màu sắc cuộc sống vẫn vẹn nguyên, ko úa tàn”Từng chữ 1 của 4 câu thơ đều nói lên nỗi ham sống tới vô bờ, tột bực tới phát triển thành cuồng si, tham lam, muốn giữ lại cho mình và cho đời vẻ đẹp, sự sống ở trong tạo vật cả trong nhịp của câu thơ, trình bày ở chỗ câu thơ đang 5 chữ bỗng chuyển xuống 8 chữ.

Đây là 1 biến đổi rất đẹp của bài thơ, làm trải ra trước mắt ta bức tranh xuân tuyệt diệu. 4 dòng thơ đấy đầy ắp những tiếng “này đây, vừa trùng trùng vừa biến hoá. Những câu thơ gợi ra 1 con người đang mê mệt, si mê, rối rít trước mùa xuân đang trải ra cuộc đời. Đấy ko chỉ là 1 bức tranh xuân, còn là cách để tác giả nhắc đến cái mê đắm về 1 mùa xuân của tuổi xanh, của tình yêu.

Thành ra, “bướm ong, yến oanh”được nhắc đến đây, bởi nó gợi ra vẻ lơi lả, tình tứ, và “bướm lả ong lơi “gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi nhân tình và hơn thế, “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Kế bên ấy, chữ “của” trở đi quay về được tác giả như dụng cộng với “này đây” như 1 cặp chẳng thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu thị xúc cảm trước tự nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật vấn vít lấy nhau, là của nhau chẳng thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và nhựa sống tròn trặn có đôi có cặp. Những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “Hoa nở” trên nền “xanh biếc” của đồng nội rộng lớn, “lá” của “cành tơ” đầy sức trẻ và sức sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn đấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “ tơ phất phơ ” ở sau. Cuộc sống xuất hiện trong hình ảnh của 1 vườn địa đàng, trong cảm xúc của 1 thú vui trần giới.

Câu thơ thứ 9 hiện ra bằng 3 chữ “và này đây”, như thể 1 người vẫn còn chưa thoả, chưa muốn ngừng lại. Đây ko còn là những hình sắc chi tiết như “lá, hoa, bướm ong” nhưng mà trừu tượng hơn là ánh sáng, thú vui, thời kì – những vật thể ko hữu hình. Không chỉ sử dụng những hình ảnh mang tính tượng trưng cao, cách nhưng mà Xuân Diệu gieo vào lòng người còn là những thứ nhưng mà con người cần phải quý trọng. Vẻ đẹp của tự nhiên chỉ được coi là đẹp lúc mang dáng dấp của vẻ đẹp con người. Đấy chính là vẻ đẹp của “hàng mi” của 1 đôi mắt đẹp. Nhưng có nhẽ nét lạ mắt của 13 câu thơ chính là 2 câu thơ mang tính so sánh cao

Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần.

Hình ảnh so sánh thật thú vị và đầy bất thần, thời kì cuốn hút nhất của mùa xuân lại được coi như 1 cặp môi gần, vừa đem lại sự ham mê, sự quyến rũ nhưng mà còn là sự say đi.

Dưới con mắt của kẻ si tình, mùa xuân xuất hiện thật đẹp, thật gợi cảm. Nó còn được tác giả đi liền với từ “ngon” mặc dầu ko ăn được, ko chạm được nhưng mà lại “ngon”. Mùa xuân như sinh ra cho con người hưởng thụ, cho hạnh phúc tới với con người, thời kì trừu tượng mới phát triển thành gần gụi, bởi vậy mùa xuân hiện lên trong xúc cảm của 1 tâm hồn đang thèm muốn hưởng thụ. Vẻ đẹp của mùa xuân như đã bị hoàn toàn chiếm hữu.

Hình ảnh so sánh đấy như 1 người đang đợi chờ, chuẩn bị hiến dâng cho tình yêu. Chính vì vậy tác giả mới thốt lên nhưng mà lại chùng xuống và có vẻ nuối tiếc:

“Tôi phấn kíchNhưng vội vã 1 nửa”

Và rồi ở những câu tiếp theo, tác giả nêu ra vì sao lại phấn kích nhưng mà lại vội vã:

Xuân đương tới tức là xuân đương quaXuân còn non tức là xuân sẽ già.

Cái mới của bài thơ và cả quan niệm của Xuân Diệu trong bài thơ được thấy rõ và phát hiện. Tưởng chừng nó giống như 1 quy luật phổ biến người nào cũng biết nhưng mà đặt trong trường hợp này, nó lại là cả 1 công đoạn chiêm nghiệm và nhận thức. Tác giả đã để 2 vế tưởng như trái ngược nhau lại biến thành ngang hàng: “đang đến” đối với “đang qua”, “non” nghịch với “già”. Đây là cách nói đầy ấn tượng hình thành sự trôi mau gấp rút cực kỳ của thời kì. Điều này càng có ý nghĩa với 1 người nhưng mà sự sống đồng nghĩa với tuổi xuân, được trình bày với đẳng thức thứ 3, vừa có cảm giác khiếp sợ, lại nuối tiếc nhưng mà cũng có cảm giác như giục giã phải sống sao cho ko phí hoài tuổi xanh, bởi xuân hết thì tôi cũng ko còn nữa..

Và xuân hết tức là tôi cũng mất.

Bằng những nét vẽ cực kỳ chân thật, lạ mắt, Xuân Diệu đã tái tạo lại quang cảnh cực kỳ lãng mạn, 1 thiên đàng dưới mặt đất. Dưới con mắt tinh tế, mẫn cảm của thi sĩ cuộc sống thật tươi đẹp và đáng sống biết bao, nhưng mà cuộc sống đấy cũng thật ngắn ngủi nên phải sống vội vã để hưởng thụ hết thú vui và hạnh phúc của cuộc sống. Qua đây tác giả cũng trình bày và gửi gắm tư tưởng sáng sủa yêu đời nhưng mà tác giả đã tạo ra cho lứa tuổi trẻ, cần phải sống, ham mê hết mình để hiến dâng cho tuổi xanh.

8. Phân tích 13 câu đầu bài Vội vã mẫu 5

Tới với Xuân Diệu – thi sĩ có nguồn cội hòa hợp giữa vùng gió Lào cát trắng cộng với sự siêng năng của xứ Nghệ.

Cha đằng ngoài, mẹ đằng trongÔng đồ nghề lấy cô hàng nước mắm.

Cả đời Xuân Diệu là cả đời lao động nghệ thuật ko khi nào dừng bút. Đối với ông sự sống ko bao giờ chán nản. Là con người xứ Nghệ siêng năng, nhẫn nại, lao động và thông minh nghệ thuật. Xuân Diệu là thi sĩ mới nhất cả về nội dung lẫn nghệ thuật trong nền văn chương hiện nay. “Vội vã” là 1 trong những tác phẩm thơ xuất xắc của ông. Bài thơ cũng là lời thúc giục sống mãnh liệt, sống hết mình. Hãy quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, trình bày khát vọng sống của tác giả. Tới với 13 câu thơ đầu chúng ta sẽ thấy rõ được sự táo tợn và đầy lãng mạn của thi sĩ. Do vậy, ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình.”

Tôi muốn tắt nắng đi……………………………..Tôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân

“Vội vã” được in trong tập “Thơ thơ”, là 1 trong những bài thơ điển hình nhất của Xuân Diệu trước cách mệnh tháng 8, bức thông điệp nhưng mà Xuân Diệu gửi tới cho người đọc qua từng phần của bài thơ, theo mạch xúc cảm của tác giả. Ngay từ đầu ta bắt gặp 1 thái độ sống:

Tôi muốn tắt nắng đi………………………………Cho hương đừng bay xa

Bắt đầu bài thơ là 1 khổ ngũ ngôn trình bày 1 ước vọng kì dị của nhà thơ. Đó là ước vọng quay ngược quy luật thiên nhiên, 1 ước vọng chẳng thể, cực kỳ táo tợn. Tôi muốn “tắt nắng”, “buộc gió” là những điều cực kỳ kì lạ, nhưng mà cực kỳ lạ mắt nhưng mà chỉ có mình Xuân Diệu mới nghĩ ra. Xuân Diệu muốn tắt nắng, muốn buộc gió để giữ lại những cái đẹp, cái tươi thắm của sự vật, của màu, của hương, của cả thời kì. Tác giả chỉ muốn giữ lại thời kì cho riêng mình, để thi sĩ có thể ngắm nhìn và hưởng thụ những điều ấy. Nhà thơ đã đẩy cái tôi chủ quan của mình để làm chỉnh sửa được quy luật của thiên nhiên. Muốn níu giữ thời kì để ngưng động cái ko gian, ý nghĩ ấy táo tợn nhưng mà cực kỳ lãng mạn. Điệp ngữ “tôi muốn” làm nổi trội cái khát vọng mãnh liệt của cuộc sống bởi tự nhiên mùa xuân đầy tươi đẹp và đầy nhựa sống.

Của bướm ong này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành lớn phất phới.

Cả ko gian như được điểm tô 1 màu xanh non tươi mơn mởn, màu xanh của đồng nội, màu xanh của lá non, màu xanh của cành lớn phất phới, liên kết hài hòa khiến cho bức tranh tự nhiên dạt dào nhựa sống, sinh động, có hồn và phát triển thành tươi mới hơn nhờ vào tiếng hót của loài chim yến oanh.

Của yến oanh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng mi.

Tiếng chim cất lên tâng bừng rộn ràng hình thành 1 khúc nhạc tình si trong ko gian tràn trề ánh sáng. Mùa xuân tâng bừng, mùa xuân rộn ràng đã dần tới cho thi sĩ 1 thú vui, niềm thèm muốn nắm bắt và muốn tận hưởng mỗi sáng.

Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửaTháng giêng ngon như 1 cặp môi gần

Cảm nhận của thi sĩ cũng thật lạ mắt lúc tới với con người. Lâu nay người ta chỉ nói mùa xuân đẹp, mùa xuân tươi và chứa chan nhựa sống nhưng mà chưa người nào nói “mùa xuân ngon”. Nhà thơ Xuân Diệu, với ông mùa xuân ko chỉ cảm nhận bằng thị giác nhưng mà tác giả còn sử dụng giải pháp so sánh để so sánh thật chi tiết “cặp môi gần”. Điều ấy trình bày sự nồng cháy trần giới của con người. Những cặp môi gần đấy, nó ghi lại vào thời kì, xuân đã biến thành 1 quả nhân nhưng mà người nghị viên là nhân tình. Chính ý tưởng ấy đã trẻ hóa toàn cầu già nua, cũ kĩ, khiến cho nó phát triển thành thật mới mẻ. Bức tranh nhà thơ vẽ ra như 1 thiên đàng đầy mật ngọt, nó ko còn đó, ko xa vắng, ko mờ ảo nhưng mà nó hiển hiện với hơi thở với nhịp độ sống ngay giữa cuộc đời trần giới để cho con người mở lòng mình ra nhưng mà hưởng thụ.

Với Xuân Diệu cái gì cũng mới lạ và bằng cặp mắt xanh non của ông của cái tôi tư nhân, Xuân Diệu đã phát xuất hiện toàn cầu này cuốn hút nhất vẫn là vì có con người. Cuộc đời cuốn hút nhất là vào khi tuổi xuân. Và con người chỉ hưởng thụ được điều đấy khi còn trẻ. Song tuổi xanh sẽ tàn phai theo thời kì vì vậy nhưng mà ông phải sống vội vã và gấp gáp.

Tôi phấn kích nhưng mà vội vã 1 nửaTôi ko chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Tới đây ta đã hiểu được tại sao nhưng mà nhà thơ muốn can hệ vào những quy luật muôn thuở của tạo hóa để không hề là 1 ước vọng ngông cuồng nông nổi. Nhưng là khát vọng cháy bỏng của thi nhân, ước vọng bất diệt hóa của cái đẹp, giữ cho cái đẹp tỏa sắc lên hương vị của cuộc sống.

Bài thơ là 1 quan niệm sống mới mẻ và táo tợn nhưng mà trước đây chưa từng có. Tới với “Vội Vàng” Xuân Diệu kêu gọi mọi người hãy biết yêu và hưởng thụ những thứ cuộc sống tặng thưởng. Hãy tranh thủ khi còn trẻ để thừa hưởng đầy đủ nhất. Ông ko quên đi trách nhiệm kêu gọi mọi người phải hiến dâng cho cuộc đời. Và trong cuộc đời của ông vội vã hiến dâng chứ không hề vội vã hưởng thụ. Đối với mỗi người chúng ta trong cuộc sống ngày nay không hề người nào cũng biết sống có mong ước, có hoài bão, đôi lúc chỉ là sống để còn đó, sống lạc loài. Đã sống là phải biết sống có mục tiêu, có mong ước, hoài bão. Khi ấy ta mới nhìn thấy cuộc sống này ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn.

9. Phân tích 13 câu đầu bài thơ Vội vã mẫu 7

Trong suốt quá trình nhưng mà phong trào thơ mới nở rộ 1 cách mạnh bạo với sự có mặt trên thị trường của các cây bút có sức thông minh, sức trẻ hình như làm lấn lướt cả 1 nền thơ cổ vốn ngự trị trên non sông hàng nghìn 5. Trong ấy người ta chẳng thể ko đề cập những cái tên điển hình như Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên,… mỗi người 1 vẻ, người nào cũng tạo cho mình 1 chỗ đứng chắc chắn trên thi đàn Việt Nam khi bấy giờ. Và Xuân Diệu đã tới, đã mang đến cho làng thơ mới 1 làn gió lạ, nhận luôn cái danh hiệu “thi sĩ mới nhất trong các thi sĩ mới” nhưng mà Hoài Thanh đã viết những câu rất lôi cuốn như sau: “Hiện thời khó nhưng mà nói hết được cái kinh ngạc của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu tới. Người đã đến giữa chúng ta với 1 trang phục tối tân và chúng ta đã e lệ ko muốn làm thân với con người có vẻ ngoài phương xa đấy,…”. Thơ Xuân Diệu sở dĩ mới lạ là ở cái cách người xây dựng và khai thác chủ đề, giữa 1 loạt các thi sĩ mới tương tự, nhưng mà chỉ có 1 mình Xuân Diệu có cái giọng thơ nồng cháy, say đắm lúc nói về mùa xuân về tình yêu về cuộc đời tương tự. Có thể nói rằng “Thơ Xuân Diệu còn là 1 nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn non nước âm thầm này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vã, sống rối rít, muốn hưởng thụ cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như lúc buồn người đều nồng cháy, thiết tha”. Ở Vội vã người ta thấy rõ được cái chất thơ đấy của Xuân Diệu, đặc trưng là 13 câu thơ đầu, chính là cái cách thi sĩ cảm nhận và hưởng thụ bức tranh tự nhiên, bức tranh mùa xuân, kèm theo ấy là bức tranh tình yêu 1 cách nồng cháy và thiết tha cực kỳ.

Thơ Xuân Diệu không hề người nào cũng cảm thu được cái hay của nó, bởi thỉnh thoảng người ta thấy nó sao dập dồn, sao vội vã và đôi lúc quá chừng “trần trụi” khiến những thi sĩ thời đấy khó chấp thuận, bởi nó mới lạ, mang âm hưởng Pháp nhưng mà lúc đọc vào lại thấy đậm vị quê hương. Nó giống như 1 món ăn vị lạ, khó để nói thành lời, nhưng mà cái người ta ko diễn giải được thì người ta sẽ gạt đi. Ngược lại với những người nào đã yêu thơ Xuân Diệu thì lại mê lắm, và gần như đấy là những người trẻ tuổi, họ có chung 1 nỗi niềm muốn sống “nhanh” muốn hưởng thụ cho trọn hứng của thi sĩ. Và “với 1 thi sĩ còn gì quý bằng sự hoan nghênh của tuổi xanh”.

Ngay từ những dòng thơ đầu Xuân Diệu đã ko ngại ngần nhưng mà biểu thị cái niềm khát khao mãnh liệt của mình giữa cuộc đời.

“Tôi muốn tắt nắng điCho màu đừng nhạt mất;Tôi muốn buộc gió lạiCho hương đừng bay đi”.

Đấy là những khát khao có phần ngông cuồng và táo tợn, đúng với cái phong cách của Xuân Diệu. Nhà thơ muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió”, muốn đi trái lại với quy luật của đất trời, bởi trên tất cả Xuân Diệu tinh thần được rằng, chẳng có màu nắng nào đẹp bằng nắng của mùa xuân, cũng chẳng có gì thanh mát, xuất sắc như hương hoa cỏ thoảng đưa trong gió biếc. Thế nên ông nhớ tiếc lắm, giả dụ nắng tàn phai, giả dụ gió cuốn hết hương hoa ngọt ngào, thì còn đâu cái mùa xuân tươi đẹp, xinh xắn – thứ nhưng mà ông vẫn hằng trông mong, khát khao và níu giữ cả cuộc đời bằng tất cả say đắm, thiết tha nữa. Chính vì vậy, thi sĩ đã biểu thị cái khao khát cháy bỏng được đi trái lại với quy luật khe khắt của tạo hóa, vượt lên trên tầm vóc của đất trời vũ trụ để lưu lại cho đời những thứ xuất sắc, tốt cuốn hút nhất. Đó là màu nắng nhàn nhạt, êm dịu đượm sắc xuân, đấy là hương thơm diệu kỳ của muôn đóa hoa đặc sắc, đại diện cho 1 trời xuân đang nở rộ. Nhưng chính ra là Xuân Diệu đang cố “tắt nắng đi”, đang muốn “buộc gió lại” để hòng ủ ấp lấy chúng nhưng mà thưởng thức 1 mình, chứ đã nghĩ tới người nào gì cho cam! Xuân Diệu chính là thi sĩ có cái lòng “ích kỷ” kỳ lạ đời như thế, đi giành giật, khát khao thứ nhưng mà hậu thế chẳng mấy người chú ý 1 cách rối rít và hấp tấp, khiến người ta thương nhưng mà ko trách được. Có thể nói rằng, ở trong 4 câu thơ đầu người ta thấy nổi lên 2 cái “tôi” rất lôi cuốn, 1 cái tôi ngông cuồng, mạnh bạo dám thử thách cả tạo hóa, đất trời để đạt được khát vọng tư nhân. Và 1 cái tôi cũng rất mực thơ ngây, hồn nhiên như 1 đứa trẻ, xốc nổi và có những ảo tưởng rất mực hoang đường, nhưng mà lại rất trẻ trung và tràn ngập nhựa sống. Tổng hòa 2 cái tôi tưởng nghe đâu riêng biệt đấy lại đem lại cho thi sĩ 1 chân dung riêng, 1 màu sắc riêng trong toàn cầu thi ca vốn lắm kẻ thiên tài này.

Sau 4 câu thơ bắt đầu, biểu thị khát vọng mãnh liệt, nồng cháy của thi sĩ về mùa xuân thì 9 câu thơ tiếp theo chính là bức tranh tự nhiên mùa xuân trong đôi mắt tình tứ của Xuân Diệu.

“Của bướm ong này đây tuần tháng mậtNày đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến oanh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửaTháng giêng ngon như 1 cặp môi gần”

Bức tranh tự nhiên mùa xuân của 1 con người tình mùa xuân như Xuân Diệu quả thật có những cái tinh tế, những cái đẹp khác với người thường. Nhà thơ cảm nhận mùa xuân phê chuẩn nhiều cảm quan, để đưa ra những nét vẽ chân thật và chân thật và cũng có 1 sự logic nhất mực. Cùng lúc phê chuẩn âm điệu của bài thơ, cộng với điệp khúc “Này đây…” người ta dễ dãi liên tưởng tới tới 1 khúc ca mùa xuân với những âm điệu rộn rã, nhưng mà tác giả là người có tâm hồn phóng khoáng, say đắm với từng lời ca. Bắt đầu người ta thấy bức tranh tự nhiên hiện lên với hình ảnh bướm dập dờn tung cánh khoe điệu vũ, ong thì mải miết tìm kiếm mật ngọt, thứ vốn là kết tinh quý giá của thiên nhiên. Và nếu đã có ong, có bướm, lại có cả mật ngọt thì tất nhiên hình ảnh hoa cỏ đặc sắc, và “đồng nội xanh biếc” mở ra ko gian tự nhiên bao la là chẳng thể nào thiếu được.

Đã có hoa, thì đâu thể thiếu lá để điểm tô thêm cho bức tranh được hoàn chỉnh, hình ảnh “lá của cành tơ phất phơ”, người ta thấy 1 cái gì ấy mềm mại lắm, tươi trẻ lắm, gợi ra 1 mùa xuân vừa mới chớm, rất tình tứ và gợi cảm. Về phần hình là vậy, về phần âm thanh, Xuân Diệu đã rất tinh tế lúc chọn “khúc tình si” của yến oanh – vốn là loài chim biểu tượng cho mùa xuân làm bản nhạc đệm cho bức tranh tự nhiên thêm rộn rã. Thế nhưng mà tất cả sẽ thật u ám, nếu thiếu đi cái ánh sáng, cái màu nắng nhàn nhạt của đất trời khi vào xuân. Xuân Diệu viết “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, ánh sáng chớp hàng mi là gì sao nghe lạ quá, nhưng mà đứng dưới cương vị của thi sĩ, ấy là thứ ánh sáng xuất sắc và ấm áp, tươi đẹp biết bao, để người ta ko nỡ lòng tránh đi nhưng mà đứng ngay giữa đất trời để hưởng thụ cảm giác nắng bao trùm cơ thể, thấy được nắng xuyên qua rèm mi buông. Không quá gắt, ko quá chói như nắng hạ, cũng ko u ám, ưu sầu như đông, ấy là thứ ánh sáng vừa đủ mỹ lệ, vừa đủ ấm áp làm tôn lên vẻ đẹp của bức tranh tự nhiên mùa xuân trong lòng tác giả. Xuân Diệu vẽ vài nét vậy thôi, thế nhưng mà người ta đã liên tưởng tới 1 khu vườn đậm sắc, đậm hương với những gam màu tươi trẻ, với những âm thanh rộn rã, và với cả thứ ánh sáng ấm áp, dịu dàng đáng khát khao. Có thể nói rằng xuân đẹp như thế, thì có tiếc gì nhưng mà người ta ko khát khao, ko nguyện vọng chứ.

Và tất nhiên rằng trong thơ của Xuân Diệu thì không thể nào thiếu vắng đi dáng hình của tình yêu được, bởi thiếu tình yêu thì hình như bức tranh tự nhiên mùa xuân vốn đại diện cho tuổi xanh cũng phát triển thành nhạt nhòa, thiếu nhựa sống. Cái tài của Xuân Diệu đấy là lồng ghép 3 từ “tuổi xanh” “mùa xuân” và “tình yêu” vào trong 1 ý thơ, người ta ko cần đọc nhiều nhưng mà cũng đã thấy đủ cả 3 nhân tố đấy. Xuân Diệu luôn để cho bức tranh của mình được tương thích, sự vật nào cũng có đôi có cặp và phát ra những tín hiệu của tình yêu của tuổi xanh. Nếu như ong thì tất nhiên là đi đôi với bướm, và thi sĩ gợi ra nhân tố tình yêu trong cụm “tuần tháng mật” nghĩa là chỉ phút giây ngọt ngào hạnh phúc nhất của những lứa đôi yêu nhau say đắm. Hoặc là hoa thì cũng thành 1 cặp với “đồng nội xanh biếc”, rất tương thích, gam màu đặc sắc của hoa lá liên kết với màu xanh mênh mông của đồng nội cỏ, gợi ra nghĩ tới 1 tình yêu vừa dịu dàng, êm ả, vừa có những cảm xúc cháy bỏng, nồng cháy. “Lá của cành tơ phất phơ” ta lại nghĩ tới những con người trẻ tuổi, đang đeo đuổi tình yêu, kẻ lôi cuốn, thướt tha người trầm mê si mê, cũng rất có phong vị yêu đương.

Tới “yến oanh” thì đã quá rõ ràng, bởi chúng vốn đã là 1 cặp nhân tình chung tình, biết bao đời nay người ta vẫn thường ca tụng, góc cạnh tình yêu ở đây lại được biểu thị qua âm sắc của “khúc tình si”, ngọt ngào, thâm thúy và đầy say đắm. Cuối cùng tới câu “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, câu thơ đem lại cho chúng ta nhiều liên tưởng thú vị? Ta cứ tạm phân ra 2 trường hợp, nếu người có rèm mi đấy là 1 cô gái xuân sắc, đang độ đôi mươi, thì chắc hẳn là người nhưng mà Xuân Diệu hằng để mắt, hằng khát khao 1 tình yêu xuất sắc. Hoặc giả dụ là thi sĩ, thì có nhẽ rằng tình yêu của ông chính là mùa xuân, chính là cuộc đời tươi trẻ đang hằng hiện trước mắt. Và có nhẽ đúng thế tâm thành yêu trong thơ của Xuân Diệu ko chỉ hữu hạn trong tình yêu lứa đôi, nhưng mà nó còn là tình yêu với tự nhiên, với cây cối, tình yêu với cuộc đời với tuổi xanh 1 cách thâm thúy và thấm thía. Thế nên lúc thấy Xuân Diệu nuối tiếc, khát khao thì thường thấy những thứ đấy trở đi quay về trong thơ ông. Nhận định này có thể dễ dãi chứng minh qua 2 câu thơ cuối đoạn “Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa/ Tháng Giêng ngon như 1 cặp môi gần”.

Tôi biết có rất nhiều người, mỗi buổi sớm thức dậy đối với họ là sự mỏi mệt đang đón nhận, công tác và sức ép cuộc sống chồng chất, người ta thỉnh thoảng chỉ muốn được nhắm mắt nhắm mũi thêm chút nữa. Nhưng Xuân Diệu thì khác, ông có 1 trái tim tâm huyết, nồng cháy, 1 niềm tin yêu vào cuộc sống, thế nên đối với ông mỗi 1 buổi sáng đã là 1 thú vui quý giá, và cái người ta cần làm là hưởng thụ nó cho thỏa sức. Kế bên ấy niềm khát khao mãnh liệt của thi sĩ với mùa xuân cũng gần giống như cái cách nhưng mà người trẻ đeo đuổi tình yêu vậy, rất nồng cháy, rất say đắm thế nên tháng Giêng tháng của mùa xuân nó cũng quyến rũ, căng tràn nhựa sống như đôi môi ngọt ngào căng mọng của thanh nữ độ 2 mươi vậy.

Như vậy có thể thấy trong 13 câu thơ đầu Xuân Diệu vừa biểu thị cái tôi tư nhân đặc trưng của mình cùng lúc cũng bộc bạch nỗi lòng khát khao mãnh liệt về mùa xuân tình yêu và tuổi xanh phê chuẩn bức tranh quang cảnh mùa xuân đầy đủ hương, sắc, vị. Thông qua ấy tác giả còn cho chúng ta nhìn thấy 1 chân lý rằng cái đẹp của tạo hóa luôn ngự trị ở bao quanh chúng ta, chứ không hề là 1 chốn thần tiên, cõi phật nào cả, vấn đề là con người có đủ tình yêu, sự tinh tế để cảm nhận và hưởng thụ chúng hay ko nhưng mà thôi.

10. Cảm nhận 13 câu đầu bài Vội vã

Thơ Xuân Diệu là “vườn mơn trớn”, ca tụng tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị trong Thơ. Xuân Diệu là thi sĩ điển hình nhất, là đại biểu đầy đủ nhất cho phong trào thơ mới, bởi cái phong cách rất riêng khó có thể trùng lặp với người nào, 1 cá tính thơ rất Xuân Diệu, mới cả về nội dung và vẻ ngoài. “Với những vần thơ ít lời nhưng mà nhiều ý, hàm súc nhưng mà đọng lại bao lăm tinh hoa, Xuân Diệu là 1 tay thợ biết khiến cho ta kinh ngạc vì nghệ thuật dai sức và cần cù”. Đặc trưng khổ thơ trước hết trong bài thơ “Vội vã” là 1 trong những bài thơ của nhà thơ đã biểu thị cái tôi trữ tình lạ mắt, đầy sức thông minh của nhà thơ Xuân Diệu.

Bài thơ “Vội vã” được nhà thơ Xuân Diệu lấy cảm hứng từ vẻ đẹp của mùa xuân, của tình yêu và của lòng người. Xuân Diệu đã rất tinh tế lúc nhìn thấy vẻ đẹp của tự nhiên trong mùa xuân, nó làm cho lòng người lâng lâng và chẳng thể cưỡng lại nổi sức hút hút.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của bướm ong này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh biếc

Này đây lá của cành tơ phất phơ

Của bướm ong này đây khúc tình si.

Bắt đầu bài thơ, Xuân Diệu đã trình bày 1 ước vọng kì dị tới ngông cuồng: “Tôi muốn tắt nắng/ tôi muốn buộc gió”. Đấy là những ước vọng kì dị bởi tắt nắng, buộc gió là công tác của tạo hóa thiên nhiên. Thi sĩ muốn tước đoạt quyền của tạo hóa. Là bởi tắt nắng “cho màu đừng nhạt”, buộc gió ”cho hương đừng bay đi”. Hóa ra trong niềm ước cực kỳ ngộ nghĩnh, ngông cuồng đấy thi sĩ muốn bất diệt hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp mãi mãi lên hương tỏa sắc giữa cuộc đời này.

Thật vậy mọi thứ trên đời mang vị ngọt đến nhưng mà chỉ 1 lần rồi thôi, ta đâu có đủ thời kì cho những quả ngọt ấy được nếm 1 lần nữa. Với Xuân Diệu ko vội vã, ko chạy đến để ôm trọn những gì đang có thì làm sao nhưng mà cảm nhận hết vẻ đẹp của đời. Khổ thơ 5 chữ độc nhất trong bài thơ khiến giọng điệu gấp gáp giống như 1 hơi thở lập cập của 1 con người đang chứa chan xúc cảm. Đại từ nhưng mà tác giả Xuân Diệu đã đặt ở trước hết là tôi, chứ không hề “ta” hay chúng ta và cộng với ấy là động từ “muốn” – “tôi muốn. Nhà thơ đang trình bày cái tôi công khai, ngang nhiên ko trốn tránh hay giấu giếm, cái tôi đầy thử thách, đi trái lại với thơ ca trung đại, rất ít dám trình bày cái Tôi của bản thân mình. Đây cũng chính là 1 điểm mới của thi sĩ trong nền văn thơ hiện khi bấy giờ, qua ấy trình bày khao khát mãnh liệt về cuộc sống. Ông muốn ôm hết xuân sắc của đời để sống, để yêu mãnh liệt hơn nữa.

Hình ảnh của cuộc sống đi vào thơ Xuân Diệu như 1 thứ ánh sáng được khúc xạ qua lăng kính tình yêu rất tinh khôi và giàu nhựa sống. Càng yêu đời, thi sĩ càng luyến tiếc trước dòng chảy của thời kì. Thời điểm vạn vật đang căng tràn sức sống cũng chính là khi đang đứng trên ranh giới của sự lụi tàn, héo úa. Vì vậy từ những câu thơ gãy gọn ở khổ đầu, thi sĩ đi vào khổ 2 với những câu thơ dài, âm điệu chậm như bước chân người thoải mái dạo ngắm vườn xuân muốn hưởng thụ giờ phút huy hoàng đấy. Thi sĩ từ tốn chỉ cho người đọc những gì tinh hoa, tươi cuốn hút nhất của nhân gian với 1 thái độ kính yêu, trân trọng ”này đây”. Mạch xúc cảm được chuyển tiếp sang 1 bức tranh tình yêu chứa chan màu sắc:

Của bướm ong này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh biếc

Này đây lá của cành tơ phất phơ

Của yến oanh này đây khúc tình si

Thành ra, “bướm ong, yến oanh” được nhắc đến đây, bởi nó gợi ra vẻ lơi lả, tình tứ và “bướm lả ong lơi“ gợi ý niệm về mùa xuân và tình yêu. Khúc nhạc của tình yêu, của những đôi nhân tình và hơn thế “của tình si”, gợi nên sự mê đắm. Kế bên ấy, chữ “của” trở đi quay về được tác giả như dụng cộng với “này đây” như 1 cặp chẳng thể tách rời. Đây là cách Xuân Diệu biểu thị xúc cảm trước tự nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật vấn vít lấy nhau, là của nhau chẳng thể tách rời. Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự trẻ trung và nhựa sống tròn trặn có đôi có cặp.những mĩ từ được sử dụng mang tính gợi hình cao “Hoa“ nở trên nền “xanh biếc“ của đồng nội rộng lớn, “lá” của “cành tơ” đầy sức trẻ và sức sống. Mọi thứ đều có cảm giác non tơ, mơn mởn đấy lại được tôn lên trong sự hiệp vần “tơ phất phơ” ở sau. Cuộc sống xuất hiện trong hình ảnh của 1 khu vườn tự nhiên chân thật đầy sắc màu, trong cảm xúc của 1 thú vui trần giới.

Điệp từ “này đây” đứng đầu câu và được nhắc đi nhắc lại 4 lần vừa mang thuộc tính liệt kê, vừa mang thuộc tính khẳng định, nhấn mạnh vừa như muốn sở hữu những vẻ đẹp đang chứa chan ở ngoài kia. Sau mỗi từ “này đây” là 1 loạt những hình ảnh tươi đẹp xuất hiện “hoa của đồng nội xanh biếc”, “lá của cành tơ phất phơ”. Đấy đều là những hình ảnh đặc thù của mùa xuân, của những gì thanh khiết và tươi cuốn hút nhất. Tất cả những hình ảnh đấy làm cho nhà thơ chạnh lòng và muốn sở hữu. Đây có thể nói là khao khát, là ước vọng mãnh liệt nhất nhưng mà Xuân Diệu đang muốn sở hữu.

Chính cái nhìn của ”cặp mắt xanh non biếc rờn” luôn lấy con người giữa mùa xuân, tuổi xanh và tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp đã hình thành vẻ riêng lạ mắt trong bức tranh mùa xuân của nhà thơ. Chúng ta có thể nhận thấy thi sĩ mô tả ong bướm đang sống trong tuần tháng mật, cành xuân thì thành cành tơ đầy nhựa sống, tiếng hát của yến oanh cũng thành điệu tình si rộn rã. Tất cả vạn vật đều đang trong tình trạng hạnh phúc. Và táo tợn nhất là cách so sánh “Tháng giêng ngon như 1 cặp môi gần” thật gần gụi và gợi cảm. Dưới con mắt “xanh non” của nhà thơ, mùa xuân tựa như 1 cô gái diễm lệ, hồng hào, tình tứ đầy quyến rũ.

Với ngôn từ gọt giũa, mượt nhưng mà, Xuân Diệu hình như đang thổi hồn vào từng câu, từng chữ của đoạn thơ khiến nó phát triển thành sinh động và quyến rũ. Bức tranh tự nhiên tươi vui, đầy màu sắc đang tràn ra qua từng câu thơ. Điệp từ “này đây” biểu thị thú vui tươi phất phới, hoan hỉ của tác giả lúc được say đắm trong quang cảnh xuất sắc như thế này.

Xuân Diệu đã vẽ lên trước mắt người đọc cả toàn cầu chân thật, trình bày “nguồn sống dạt dào”. Xuân Diệu là 1 hồn thơ yêu đời và tài giỏi. Thi sĩ đã vẽ lên trong tâm khảm người đọc 1 bức tranh tự nhiên nơi trần giới tuyệt đẹp.

Mời các bạn tham khảo thêm các thông tin bổ ích khác trên phân mục Tài liệu của KTHN VN.

TagsVăn học


  • Tổng hợp: KTHN
  • Nguồn: https://bigdata-vn.com/top-10-mau-phan-tich-13-cau-dau-bai-voi-vang-sieu-hay/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Check Also
Close
Back to top button