Wiki

Revival (album của Eminem)

Revival
Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Skylar Grey (trái) và Rick Rubin (phải) là các nhà sản xuất của album.
Revival (album của Eminem) Ed Sheeran, người góp giọng cho ca khúc “River”.

Đĩa đơn chính, “Walk on Water”, lần đầu tiên được Eminem trình diễn tại giải Âm nhạc châu Âu của MTV năm 2017 vào ngày 12 tháng 11 với giọng ca của nhà đồng sản xuất và người viết lời Skylar Gray. Cả hai đã biểu diễn ca khúc và bản hòa tấu “Stan” / “Love the Way You Lie” trên Saturday Night Live vào ngày 18 tháng 11.

Ngày 28 tháng 11 năm 2017, ngày phát hành album được công bố là ngày 15 tháng 12 trên các tài khoản mạng xã hội của Dr. Dre và Eminem. Ngày 5 tháng 12 năm 2017, Eminem chia sẻ một danh sách đầy đủ tất cả các ca khúc có trong album thông qua tài khoản Instagram của mình. Danh sách có tổng cộng 19 bài hát và có sự tham gia của các nghệ sĩ như Phresher, Ed Sheeran, Skylar Gray, Alicia Keys, X Ambassadors, Pink và Kehlani.

Vào ngày 7 tháng 12 năm 2017, bìa album được tiết lộ và chiếu lên một tòa nhà Detroit. Tối hôm đó, bài hát “Untouchable” được phát hành và người nghe có thể đặt hàng trước trên iTunes.

Đĩa đơn

Revival (album của Eminem) Beyoncé là giọng ca chính cho đĩa đơn “Walk on Water”.

Ngày 8 tháng 11 năm 2017, Eminem đã tweet một bức ảnh chụp toa thuốc của bác sĩ với các dòng chữ “Walk on Water” và “Take as needed” (uống khi cần thiết). Ngoài ra, ghi chú của bác sĩ đã được dán nhãn logo cho Revival. Điều này gây ra suy đoán rằng đĩa đơn đầu tiên sẽ có tựa đề “Walk on Water”. Ngày 9 tháng 11, Paul Rosenberg chia sẻ một video trên Instagram thể hiện mối liên hệ giữa viên thuốc “Revival” và “Walk on Water”. Anh cũng xác nhận bài hát và ngày hôm sau, “Walk on Water” được phát hành. Eminem đã đăng tải một audio lên YouTube. Tính đến ngày 16 tháng 12 năm 2017, video có gần 50 triệu lượt xem và hơn 1,1 triệu lượt thích. Ngày 23 tháng 12 năm 2017, video âm nhạc cho bài hát được phát hành độc quyền trên Apple Music và kênh kênh Vevo chính thức của Eminem. “Walk on Water” ra mắt ở vị trí số 14 trên Billboard Hot 100, đây là xuất hiện lần thứ 57 trên bảng xếp hạng đối với cả hai nghệ sĩ.

“River” với giọng ca của Ed Sheeran được phát hành làm đĩa đơn thứ hai của album. Ca khúc được phát hành lên đài phát thanh vào ngày 5 tháng 1 năm 2018 và dưới dãng đĩa đơn vào ngày 7 tháng 2. Ngày 14 tháng 12 năm 2017, Eminem đăng tải một audio lên kênh YouTube của mình. Tính đến ngày 15 tháng 1 năm 2018, video đã có hơn 60 triệu lượt xem và 1 triệu lượt thích. Ngày 14 tháng 2 năm 2018, video âm nhạc cho bài hát được phát hành trên kênh Vevo chính thức của Eminem. Về diễn biến thương mại, ca khúc đã đạt vị trí số 1 tại Anh Quốc, Na Uy và Thụy Điển, đồng thời lọt vào top 10 tại Úc, Áo, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Hungary, Ireland, Ý, Hà Lan, New Zealand, Bồ Đào Nha và Thụy Sĩ và top 20 tại Bỉ và Hoa Kỳ.

Đĩa đơn thứ ba của album, “Nowhere Fast” với giọng ca Kehlani, đã tác động đến đài phát thanh đương đại của Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 3 năm 2018. Hai nghệ sĩ đã trình diễn bài hát tại Lễ trao giải âm nhạc iHeartRadio 2018. “Remind Me” được phát hành cho đài phát thanh Ý làmmm đĩa đơn thứ tư của album vào ngày 6 tháng 7 năm 2018.

Ngày 3 tháng 4 năm 2018, video âm nhạc cho ca khúc horrorcore “Framed” được phát hành. Video lấy cảm hứng từ những bộ phim kinh dị thập niên 80.

Đĩa đơn quảng bá

“Untouchable” được phát hành dưới dạng đĩa đơn quảng bá vào ngày 8 tháng 12 năm 2017. Ca khúc lấy nhạc mẫu từ bài “Earache My Eye” của bộ đôi hài Cheech & Chong. Một bản phối lại của “Chloraseptic” với sự tham gia của 2 Chainz và Phresher được phát hành làm đĩa đơn quảng bá thứ hai cho album vào ngày 8 tháng 1 năm 2018.

Tiếp nhận phê bình


Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
AnyDecentMusic? 4,3/10
Metacritic 50/100
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)
The A.V. Club D+
Consequence of Sound F
The Daily Telegraph Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)
The Guardian Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)
The Independent Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)
NME Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)
The Observer Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)
Pitchfork 5,0/10
Rolling Stone Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)Revival (album của Eminem)

Sau khi phát hành, nhìn chung, Revival nhận được những ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc. Nhiều người trong số họ đưa ra những quan điểm khác nhau về sự thiếu tính trọng tâm, phần ca từ, về việc sử dụng quá nhiều các đoạn nhạc mẫu của các bài hát rock, cũng như về số lượng nhiều đến mức thừa thãi của các nghệ sĩ pop khách mời trong album. Trên Metacritic, một trang đưa ra số điểm chuẩn trên thang 100 dựa trên đánh giá của các xuất bản phẩm phổ biến, album nhận được điểm trung bình là 50 dựa trên 24 đánh giá, tương ứng với nhận xét “các đánh giá trái chiều hoặc ở mức trung bình”. Don Needham từ tờ The Guardian chỉ trích album khi nói rằng “Nếu Eminem nghĩ rằng những mánh khóe bằng lời nói của anh ta có thể khắc phục điểm yếu của bất kỳ bản nhạc đệm nào, thì những album gần đây của anh ta đã chứng minh điều khác.” Neil McCormick của The Daily Telegraph tuyên bố rằng Revival “đại diện cho Eminem ở phong độ đỉnh cao, nghĩa là không thể ngăn cản, không thể đánh bại nhưng thường không thể biện hộ được.”

The Irish Times kết luận rằng Revival “đáng ngưỡng mộ hơn những sản phẩm trước nhưng không thú vị hơn. Một cơ hội để thoát khỏi sự sụt giảm đã vút qua Eminem. Nó có thể sẽ không bao giờ đến với anh ta.” Trong một bài phê bình tổng hợp, Jon Caramanica từ tờ The New York Times nhận xét rằng trong khi album “có lẽ là album hay nhất trong số những album gần đây của anh ấy”, anh ấy đã chỉ trích sự thiếu nhận thức rõ ràng của Eminem đối với sự phát triển của âm thanh hip hop nói chung.” Trong một bài đánh giá tiêu cực, tờ Consequence of Sound đã cho album xếp hạng “F” và gọi album là “xấu xí, gây khó chịu và không làm hài lòng” và là “một thảm họa”.

So sánh Revival với các sản phẩm trước đây của Eminem, Matthew Ismael Ruiz từ tờ Pitchfork tuyên bố rằng “Về mặt tinh thần, Revival không khác gì, đầy những bản ballad bằng piano và các ngôi sao nhạc pop vang lên những góc thương mại cay độc nhất của anh ta. Giá trị gây sốc không phải đến từ những câu nói nhạt nhẽo hay sự hài hước đáng nể của album (mà album có rất nhiều), mà từ những khoảnh khắc mà sự phát triển của con người anh ta rõ ràng nhất”. Anh kết luận rằng “Revival là một album muộn khác trong sự nghiệp mà hầu như không thêm gì vào di sản của anh ta.”

Trent Clark từ tờ HipHopDX nói rằng “Sự cống hiến của Eminem đối với các mic phá hoại như Robert Mueller không bao giờ có thể bị nghi ngờ nhưng các lựa chọn sản xuất vẫn còn là một bí ẩn. Khi anh ấy không tắm trong các mẫu đá có thể nhìn thấy rõ như Joan Jett và Blackgetts ‘” I Love Rock’ n ‘Roll ” hoặc The Cranberries ‘ ” Zombie ” (trên “Remind Me” hoặc “In Your Head”), anh ấy chủ yếu là hình vuông gắn lời bài hát tăng cường của anh ấy trên các tấm cơ học của dòng nhạc pop lắp ráp. ” Anh ấy đã chọn ra “Đóng khung” và “Lâu đài” như những điểm nổi bật: “phần lớn là những lần đọc lại vinh quang trong quá khứ, nơi anh ấy cố gắng hết sức. Trên “Khung hình” được sản xuất một cách thôi miên, Marshall đã đeo mặt nạ khúc côn cầu vì lợi ích của thời xưa và khơi dậy những tưởng tượng giết người mà tốt hơn hay tồi tệ hơn, đặc trưng cho khoảnh khắc vần điệu trong túi nhất của album. Và khi anh lao vào tâm lý bị thay đổi ma túy để nói về tình yêu lớn nhất của mình – cô con gái Haile Jade – DJ Khalil đáng tin cậy bước lên chiếc đĩa trên “Lâu đài” với âm thanh réo rắt của những cây đàn ghita rùng rợn và tiếng trống réo rắt. Khoảnh khắc Eminem cổ điển nhất của album. ” Mitch Findlay từ HotNewHipHop đã viết một bài phê bình tương tự và nói: “Cho đến nay, album thân thiện với nhạc pop nhất của Eminem cho đến nay. Trong khi các album trước chỉ đơn thuần tán tỉnh âm thanh, Revival đã mua một chiếc nhẫn và cầu hôn nó. Do đó, nếu bạn là người không tìm thấy niềm vui trong quá trình sản xuất “pop-rap”, bạn sẽ không tìm thấy sự an ủi nào ở đây. ” Anh ta chỉ ra “Đóng khung”, “Lâu đài” và “Arose” là những điểm nổi bật, gọi hai phần sau là “trong số các bản nhạc mạnh nhất của Revival. Về mặt khái niệm và trữ tình, cặp đôi kết thúc tìm thấy Eminem ở dạng xuất sắc và những người hâm mộ lâu năm sẽ không nghi ngờ gì khi trích dẫn hai điều này như những điểm nổi bật của album. ”

Về phản ứng của album, Eminem nói: “Tôi nghĩ rằng có những thứ sẽ bị lấy khỏi album này và phản ứng với nó. Có quá nhiều bài hát không? Có quá nhiều tính năng? Có một số bài hát nhất định như “Kết thúc bi thảm” và “Cần tôi” nơi tôi cảm thấy như lời bài hát họ sẽ cho người nghe một giây để thở. Tôi dành rất nhiều thời gian để viết shit mà tôi nghĩ rằng không ai từng có được. ” Sau đó, ông nói: “Khi danh sách theo dõi Revival xuống đường ống, nó giống như quá sức, ‘Chết tiệt này sẽ là rác rưởi.’ Không ai thực sự muốn sai về nó. Tôi không nói mọi người, nhưng nhiều người đã hình thành ý kiến của họ. ” Anh ấy cũng nói rằng anh ấy tự hào về album, nói: “Tôi rất tốt với Revival. Mẹ kiếp Bởi vì tôi không thể tạo ra album này [ Kamikaze ] mà không có nó.”

Diễn biến thương mại


Revival chạm đến đỉnh UK Albums Chart với 132.000 đơn vị album tương đương, đây là màn ra mắt lớn thứ hai trong năm chỉ sau ÷ của Ed Sheeran và cũng là album thứ tám liên tiếp đứng ở vị trí số 1 của nam rapper. Một tuần sau, vị trị này thuộc về ÷. Tính đến tháng 10 năm 2018, album đã bán được 321.000 đơn vị album tương đương ở Anh.

Revival cũng là album thứ tám liên tiếp của Eminem đứng đầu Billboard 200 của Hoa Kỳ khi ra mắt với 197.000 bản trong số 267.000 đơn vị album tương đương. Kết quả là Eminem trở thành nghệ sĩ âm nhạc đầu tiên có tám sản phẩm liên tiếp ra mắt tại vị trí cao nhất. Tuần tiếp theo, Revival bị Reputation của Taylor Swift đánh bại. Tính đến ngày 23 tháng 9 năm 2018, Revival đã bán được 392.000 bản tại Mỹ.

Album cũng đạt vị trí số 1 tại Úc, đây cũng là lần thứ chín Eminem đứng đầu ARIA Charts. Một tuần sau, kỷ lục này đã bị ÷ phá vỡ.

Năm 2018, Revival xếp thứ 32 trong danh sách các album phổ biến nhất năm trên Billboard 200.

Danh sách bài hát


Phần ghi công được lấy từ Tidal.

STT Tựa đề Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. “Walk on Water”
  • Marshall Mathers
  • Holly Hafermann
  • Beyoncé Knowles
  • Rick Rubin
  • Skylar Grey
5:04
2. “Believe”
  • Mathers
  • Luis Resto
  • Mark Batson
  • Mike Strange
  • Eminem
  • Luis Resto
  • Mr. Porter
5:15
3. “Chloraseptic”
  • Mathers
  • Denaun Porter
  • Erick Sermon
  • Parrish Smith
Mr. Porter 5:01
4. “Untouchable”
  • Mathers
  • Emile Haynie
  • Mark Batson
  • Porter
  • Tommy Chong
  • Gaye Delorme
  • Richard Marin
  • Duval Clear
  • Andre Brown
  • Tyrone Kelsie
  • Eric McIntosh
  • Eminem
  • Mark Batson
  • Emile Haynie
  • Mr. Porter
6:10
5. “River”
  • Mathers
  • Emile Haynie
  • Ed Sheeran
Emile Haynie 3:41
6. “Remind Me (Intro)”
  • Andre Young
  • Theron Feemster
  • Trevor Lawrence, Jr.
  • Dr. Dre
  • Feemster
  • Lawrence, Jr.
0:26
7. “Remind Me”
  • Mathers
  • Jake Richards
  • Allan Sachs
  • Jesse Bonds Weaver, Jr.
  • Matt Dike
  • Luther Rabb
  • James Walters
  • Marvin Young
Rick Rubin 3:45
8. “Revival (Interlude)”
  • Mathers
  • Alicia Lemke
  • Bryan Frizel
  • Aaron Kleinstub
  • Regina Spektor
  • Frequency
  • Aalias
0:51
9. “Like Home”
  • Mathers
  • Hafermann
  • A. Jackson
  • Justin Smith
  • Paul Rosenberg
  • Resto
  • Alicia Augello-Cook
  • Just Blaze
  • Eminem
4:05
10. “Bad Husband”
  • Mathers
  • Alexander Grant
  • Resto
  • Sam Harris
  • Alex da Kid
  • Eminem
4:47
11. “Tragic Endings”
  • Mathers
  • Hafermann
  • Grant
Alex da Kid 4:12
12. “Framed”
  • Mathers
  • Farid Nassar
  • David John Byron
  • Kenneth William Hensley
  • Fredwreck
  • Eminem
4:13
13. “Nowhere Fast”
  • Mathers
  • Mark Batson
  • Antonina Armato
  • Timothy James Price
  • Thomas Armato Sturges
  • Rock Mafia
  • Hit-Boy
4:24
14. “Heat”
  • Mathers
  • Darryl McDaniels
  • Joseph Simmons
  • Larry Smith
  • Adam Horovitz
  • Rubin
Rick Rubin 4:10
15. “Offended”
  • Mathers
  • Ray Fraser
  • Charles Bradley
  • Thomas Brenneck
  • David Guy
  • Leon Michels
  • Illa da Producer
  • Eminem
5:20
16. “Need Me”
  • Mathers
  • Hafermann
  • Jon Ingoldsby
  • Grant
Alex da Kid 4:25
17. “In Your Head”
  • Mathers
  • Dolores O’Riordan
  • Marc Shemer
Scram Jones 3:02
18. “Castle”
  • Mathers
  • Khalil Abdul-Rahman
  • Pranam Injeti
  • Erik Alcock
  • Liz Rodrigues
DJ Khalil 4:14
19. “Arose”
  • Mathers
  • Barry White
  • Amanda McBroom
Rick Rubin 4:34
Tổng thời lượng: 77:39
Ghi chú
  • ^[a] biểu thị nhà đồng sản xuất.
  • ^[b] biểu thị nhà sản xuất bổ sung.
  • “Remind Me” có giọng ca của Porter.
  • “Revival (Interthere)” có giọng ca của Alice và Glass Lake.
  • “Offended” có giọng ca của Kent Jones.
  • “Castle” có giọng ca của Liz Coleues.
Ghi công nhạc mẫu
  • “Cloraseptic” chứa các yếu tố của “Its My Thing”, được viết bởi Erick Sermon và Parrish Smith và thể hiện bởi EPMD.
  • “Untouchable” chứa nhạc mẫu của “Earache My Eye”, được viết bởi Tommy Chong, Gaye Delorme, Richard Marin và được trình diễn bởi Cheech & Chong và “Born to Roll”, được viết bởi Duval Clear, Andre Brown, Tyrone Kelsie và Eric McIntosh và thể hiện bởi Masta Ace Incorporated.
  • “Remind Me” chứa nhạc mẫu của “I Love Rock ‘n’ Roll”, được viết bởi Alan Merrill, Jake Hooker và thể hiện bởi Joan Jett và Blackgetts; “Saturday Night”, được viết và thể hiện bởi Schoolly D và “Bust a Move”, được viết bởi Matt Dike, Luther Rabb, James Walters và Marvin Young và thể hiện bởi Young MC.
  • “Revival (Interlude)” chứa các yếu tố của “Human of the Year”, được viết và thể hiện bởi Regina Spektor.
  • “Framed” chứa nhạc mẫu của “Pilgrim”, được viết bởi David John Byron và Kenneth William Hensley và thể hiện bởi C&K Vocal.
  • “Heat” chứa nhạc mẫu của “King of Rock”, được viết bởi Darryl McDaniels, Joseph Simmons và Larry Smith và thể hiện bởi Run-DMC; “Girls”, được viết bởi Adam Horovitz và Rick Rubin và được trình bày bởi Beastie Boys và một phần nhạc mẫu không được ghi công của “Intro (Feel the Heat)” từ bộ phim Boogie Nights, thể hiện bởi John C. Reilly và Mark Wahlberg.
  • “Offended” chứa nhạc mẫu của “In You (I Found a Love)”, được viết bởi Charles Bradley, Thomas Brenneck, David Guy và Leon Michels và thể hiện bởi Charles Bradley.
  • “In Your Head” chứa nhạc mẫu của “Zombie”, được viết bởi Dolores O’Riordan và thể hiện bởi The Cranberries.
  • “Arose” chứa các mẫu của “I’m Gonna Love You Just a Little More Baby”, được viết và thể hiện bởi Barry White và “The Rose”, được viết bởi Amanda McBroom và thể hiện bởi Bette Midler.

Đội ngũ thực hiện


Nguồn:

Biểu diễn

  • Eminem – hát
  • Beyoncé – hát (bài 1)
  • Phresher – hát (bài 3)
  • Ed Sheeran – hát (bài 5)
  • Alicia Keys – hát (bài 9)
  • X Ambassadors – hát (bài 10)
  • Skylar Grey – hát (bài 11)
  • Kehlani – hát (bài 13)
  • Pink – hát (bài 16)

Kỹ thuật

  • Mike Strange – kỹ sư ghi âm (bài 1–5, 7, 9–19), kỹ sư phối khí (bài 2–5, 8, 9, 12, 13, 15, 17–19)
  • Joe Strange – kỹ sư ghi âm (bài 1–5, 7, 9–19)
  • Jason Lader – kỹ sư ghi âm (bài 1, 14, 19)
  • Stuart White – kỹ sư ghi âm (bài 1)
  • Rob Bisel – trợ lý kỹ sư ghi âm (bài 1, 7, 14, 19)
  • Johnnie Burik – trợ lý kỹ sư ghi âm (bài 1, 7, 14, 19)
  • Tony Campana – trợ lý kỹ sư ghi âm (bài 1–5, 7, 9–19)
  • Manny Marroquin – kỹ sư phối khí (bài 1, 11, 16)
  • Eminem – kỹ sư phối khí (bài 5, 9)
  • Mauricio “Veto” Iragorri – kỹ sư ghi âm (bài 6)
  • Robert Reyes – trợ lý kỹ sư ghi âm (bài 6)
  • Charles “CharlieRed” Garcia – trợ lý kỹ sư ghi âm (bài 6)
  • Dr. Dre – kỹ sư phối khí (bài 6, 7, 14)
  • Quentin “Q” Gilkey – kỹ sư phối khí (bài 6, 7, 14)
  • Frequency – kỹ sư ghi âm (bài 8)
  • Aalias – kỹ sư ghi âm (bài 8)
  • Just Blaze – kỹ sư ghi âm (bài 9)
  • Andrew Wright – kỹ sư ghi âm (bài 9)
  • Ann Mincieli – kỹ sư ghi âm (bài 9)
  • Brendan Morawski – trợ lý kỹ sư ghi âm (bài 9)
  • Travis Ference – kỹ sư ghi âm (bài 10, 11, 16)
  • Sam Harris – kỹ sư ghi âm (bài 10)
  • Chris Galland – kỹ sư phối khí (bài 10, 11, 16)
  • Robin Florent – trợ lý kỹ sư phối khí (bài 10, 11, 16)
  • Scott Desmarais – trợ lý kỹ sư phối khí (bài 10, 11, 16)
  • Steve Hammons – kỹ sư ghi âm (bài 13)
  • Adam Comstock – kỹ sư ghi âm (bài 13)
  • Darwin Sanchez – kỹ sư ghi âm (bài 15)
  • Scram Jones – kỹ sư ghi âm (bài 17)
  • Myles William – gõ, lập trình (bài 9)

Sản xuất

  • Rick Rubin – sản xuất (bài 1, 7, 14, 19)
  • Skylar Grey – sản xuất (bài 1)
  • Eminem – sản xuất (bài 2, 4), đồng sản xuất (bài 9, 10, 12, 15)
  • Luis Resto – sản xuất bổ sung (bài 2)
  • Mr. Porter – sản xuất bổ sung (bài 2), sản xuất (bài 3, 4)
  • Mark Batson – sản xuất (bài 4)
  • Emile Haynie – sản xuất (bài 4, 5)
  • Dr. Dre – sản xuất (bài 6)
  • Neff-U – sản xuất (bài 6)
  • Trevor Lawrence – sản xuất (bài 6)
  • Frequency – sản xuất (bài 8)
  • Aalias – sản xuất (bài 8)
  • Just Blaze – sản xuất (bài 9)
  • Alex da Kid – sản xuất (bài 10, 11, 16)
  • Fredwreck – sản xuất (bài 12)
  • Rock Mafia – sản xuất (bài 13)
  • Hit-Boy – sản xuất (bài 13)
  • Illa da sản xuất – sản xuất (bài 15)
  • Scram Jones – sản xuất (bài 17)
  • DJ Khalil – sản xuất (bài 18)

Xếp hạng


Xếp hạng tuần

Xếp hạng (2017–18) Vị trí cao nhất
Album Anh Quốc (OCC) 1
Album Áo (Ö3 Austria) 1
Album Ba Lan (ZPAV) 17
Album Bỉ (Ultratop Flanders) 6
Album Bỉ (Ultratop Wallonia) 20
Album Bồ Đào Nha (AFP) 9
Canadian Albums (Billboard) 1
Album Cộng hòa Séc (ČNS IFPI) 15
Album Đan Mạch (Hitlisten) 1
Album Đức (Offizielle Top 100) 2
Đức (Top 20 Hip Hop) 1
Album Hà Lan (Album Top 100) 1
Album Phần Lan (Suomen virallinen lista) 1
Album Pháp (SNEP) 7
Hoa Kỳ Top R&B/Hip-Hop Albums (Billboard) 1
Hoa Kỳ (Billboard 200) 1
Album Hungaria (MAHASZ) 14
Hy Lạp (IFPI) 12
Album Ireland (IRMA) 3
Album Na Uy (VG-lista) 1
Album New Zealand (RMNZ) 3
Nhật Bản (Oricon) 17
Scottish Albums (OCC) 2
Album Tây Ban Nha (PROMUSICAE) 18
Album Thụy Điển (Sverigetopplistan) 1
Album Thụy Sĩ (Schweizer Hitparade) 1
Album Úc (ARIA) 1
Album Ý (FIMI) 7

Xếp hạng cuối năm

Xếp hạng (2017) Vị trí
Anh Quốc (OCC) 20
Đức (Offizielle Top 100) 67
Pháp (SNEP) 118
Úc (ARIA) 21
Ý (FIMI) 97
Xếp hạng (2018) Vị trí
Anh Quốc (OCC) 32
Áo (Ö3 Austria) 60
Bỉ (Ultratop Flanders) 52
Bỉ (Ultratop Wallonia) 122
Canada (Billboard) 5
Đan Mạch (Hitlisten) 13
Đức (Offizielle Top 100) 58
Hà Lan (MegaCharts) 63
Hoa Kỳ (Billboard 200) 32
New Zealand (RMNZ) 34
Pháp (SNEP) 113
Thụy Điển (Sverigetopplistan) 25
Thụy Sĩ (Schweizer Hitparade) 6
Úc (ARIA) 31
Ý (FIMI) 77

Chứng nhận


Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Anh (BPI) Bạch kim 321,000
Áo (IFPI Austria) Vàng 10.000*
Canada (Music Canada) Bạch kim 80.000^
Đan Mạch (IFPI Denmark) Bạch kim 0^
Đức (BVMI) Vàng 100.000^
Hoa Kỳ (RIAA) Vàng 500.000double-dagger
Na Uy (IFPI) Bạch kim 30.000*
New Zealand (RMNZ) Vàng 7.500^
Pháp (SNEP) Bạch kim 100.000*
Úc (ARIA) Bạch kim 70.000^
Ý (FIMI) Vàng 30.000*

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Ghi chú


Check Also
Close
Back to top button