Wiki

Phú Thị

Hành chính
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Thành phố Hà Nội
Huyện Gia Lâm
Địa lý
Diện tích 5,09 km2
Dân số (1999)
Tổng cộng 6.349 người
Dân tộc Kinh
Khác
Mã hành chính 00559
Mã bưu chính 131610
  • x
  • t
  • s

Phú Thị là một xã thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Vị trí địa lý


Xã Phú Thị nằm bên bờ Nam sông Đuống, Có sông Thiên Đức (đoạn chảy qua xã còn có tên gọi là sông Cầu Giàng), cạnh quốc lộ 5. Xã có ranh giới:

  • Phía Bắc và Tây giáp xã Đặng Xá
  • Phía Tây Nam giáp thị trấn Trâu Quỳ
  • Phía Nam giáp xã Dương Xá
  • Phía Đông Nam giáp xã Dương Quang
  • Phía Đông giáp xã Kim Sơn
  • Phía Đông Bắc giáp xã Phù Đổng với ranh giới tự nhiên là sông Đuống.

Giao thông


Xã Phú Thị có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi:

  • Quốc lộ 17: nối từ quốc lộ 5 tại Kiên Thành (thị trấn Trâu Quỳ) kéo dài sang tỉnh Bắc Ninh.
  • Tỉnh lộ 179: Từ Dốc Lời (xã Đặng Xá) đi qua xã và kéo dài đến thị trấn Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
  • Đường Phú Thị: từ ngã ba giao quốc lộ 17 đi ngã ba thôn Bài Tâm (xã Dương Quang)
  • Đường Ỷ Lan (nguyên là tỉnh lộ 179) đi ngã tư Phú Thụy (xã Dương Xá)
  • Đường Nguyễn Huy Nhuận đi quốc lộ 5
  • Hệ thống xe buýt: 52A, 52B, 204.

Lịch sử


Xã Phú Thị nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ, có nét đặc trưng vùng “tam giác” sông Hồng, sông Đuống (Thiên Đức) nên địa hình bằng phẳng. Đến nay, đất đai đồng ruộng Phú Thị còn đậm dấu tích quá trình bồi đắp phù sa của sông Nghĩa Giang – một nhánh lớn của sông Thiên Đức xưa, nay sông bị triệt dòng, đã và đang biến dạng thành một dải ao, hồ, chạy dọc theo đường Ỷ Lan, từ thôn Lời, xã Đặng Xá, qua xã Phú Thị đến xã Dương Xá và xã Dương Quang, rồi sang huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Xã Phú Thị gồm các thôn: Đại Bản, Hàn Lạc, Phú Thụy (phố Sủi), Tô Khê, Trân Tảo – mà trước kia (thời nhà Nguyễn)) vốn là 4 xã: Hàn Lạc, Phú Thụy, Tô Khê, Trân Tảo thuộc tổng Kim Sơn huyện Gia Lâm phủ Thuận An tỉnh Bắc Ninh.

Sau năm 1945, xã Hàn Lạc tách làm 2: Đại Bản và Hàn Lạc, tạo thành 5 thôn của xã Phú Thụy ngày nay.

Trước năm 1965 xã Phú Thị có tên gọi là Quyết Chiến, sau được đổi thành Phú Thị.

Làng Phú Thụy (kẻ Sủi), tức là thôn Phú Thụy, là một làng cổ từ thời Lý-Trần, quê của Nguyên phi Ỷ Lan. Tên gọi Sủi, là một từ Việt cổ, có các biến âm là Lỗi hay Luỗi, sau được Hán Việt hóa thành Thổ Lỗi.

Đình làng Sủi


Đình làng Sủi thờ Tây Vị Đại Vương là tướng nhà Đinh có tên húy Đào Liên Hoa quê ở Thanh Hóa, con ông Đào Lan và bà Nguyễn Thị Huệ. Ông rất thông minh, ham học, năm 15 tuổi đã xin cha cho đi học ở quận Vũ Ninh, phủ Từ Sơn, huyện Đông Ngàn, thôn Hội Phụ (nay thuộc xã Đông Hội, huyện Đông Anh). Khi biết ở Hoa Lư có Đinh Bộ Lĩnh khởi nghĩa dẹp loạn 12 sứ quân, ông xin đầu quân và được phong làm tướng quân. Với những chiến công có được, ông được Đinh Bộ Lĩnh phong làm Tây Vị Đại Vương rồi được cử đi Chánh sứ sang Trung Quốc. Khi huyện Gia Lâm có giặc loạn nổi lên, ông đem quân đi dẹp rồi lập đồn cùng trang ấp ở Thổ Lỗi, dậy nhân dân sản xuất, xây nhà cửa lo cuộc sống. Khi ông mất (vào ngày 25 tháng 12 âm lịch), vua phong ông là Thượng Đẳng Tôn Thần và hạ chiếu cho các làng thuộc địa hạt ông cai quản phải lập đình để hương khói phụng thờ đời đời. Dân làng Sủi đã lập đình Sủi thờ ông và tôn ông là Thành hoàng làng.

Danh nhân


  • Ỷ Lan
  • Nguyễn Huy Nhuận (1678-1758) – tiến sĩ, Tham tụng; Thượng thư trải 5 bộ, Tri Quốc Tử Giám, đã được đặt tên đường tại quê hương Gia Lâm.
  • Đoàn Bá Dung – tiến sĩ, Thượng thư;
  • Cao Dương Trạc – tiến sĩ, Thượng thư;
  • Trịnh Bá Tướng – tiến sĩ, Thượng thư;
  • Nguyễn Huy Mãn (1688 – 1739) – tiến sĩ khoa Tân Sửu (1721), Giám sinh trường Quốc Tử Giám, Gia thần trong phủ Lượng quốc thuộc Vương phủ chúa Trịnh, giữ chức Đô Ngự Sử, Hiến sát sứ Sơn Nam, Đốc đồng Thanh Hoa, thầy dạy hai anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nghiễm (quê Tiên Điền, Hà Tĩnh) đều đỗ tiến sĩ; Nguyễn Nghiễm là thân phụ của thi hào Nguyễn Du.
  • Nguyễn Huy Thuật (1690-) – tiến sĩ khoa Quý Sửu (1733), văn võ song toàn, Đề hình Giám sát Ngự sử, Hiến sát sứ xứ Sơn Tây, Đốc đồng xứ Kinh Bắc, Thanh Hoa; Tham chính xứ Sơn Tây, Hàn lâm viện Thừa chỉ. Khi về hưu, cụ được chúa Trịnh tặng ba chữ “Kế phương đình” và bốn câu đối;
  • Nguyễn Huy Dận (1708-1780), hiệu Giới Am, lấy con gái quan Hộ Bộ Thượng thư Cao Dương Trạc (cùng làng Sủi); tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748), Tri phủ Từ Sơn, Hàn lâm viện Thị chế, Đông các Hiệu thư, Thái thường Tự khanh, Đốc đồng An Quảng, Sơn Nam, Tả Tham chính Thái Nguyên. Cụ có trước tác để lại, trong đó có bài văn bia Hữu công thôn nội bi ký/ Vĩnh cửu bất san được dựng tại đền thờ Sỹ Nhiếp (xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
  • Nguyễn Huy Cẩn, tức Cận (1729-1790), tên hiệu là Phương Am, Hội nguyên tiến sĩ, tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760), Tri phủ Lạng Giang, sau từ quan, về mở trường Phương Am dạy học. Cụ có nhiều tác phẩm thơ văn, trong số đó, sau này được học trò là Cao Huy Diệu (cùng làng) tập hợp và soạn thành cuốn “Phương Am Nguyễn tiên sinh truyện” ghi lại 91 bài thơ của thầy mình (hiện vẫn còn ở Viện Hán Nôm); cụ còn là tác giả của bản “Tuyên văn Mục lục” cả chữ Hán và chữ Nôm có nội dung nhân bản và giáo dục cao, ca ngợi phong thổ, cảnh đẹp và truyền thống Làng Sủi.
  • Nguyễn Huy Lượng (1759-1808), đỗ Hương cống, Nhà chính trị, Nhà thơ nổi tiếng, giữ chức Hữu Thị Lang Bộ Hộ, danh nhân phò Tây Sơn, sáng tác nhiều thơ văn (Tụng tây hồ phú, Cung oán thi, Lượng như long phú, Văn tế trận vong tướng sỹ, Thơ Hồ Tây, Diễn ca “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, Ngự đạo hành cung nhật trình, Tam thiên tự giải nghĩa, Tây hồ cảnh tụng, Văn tế con dâu Hoàng Phùng Cơ…), trong đó nổi bật nhất là danh tác “Tụng Tây Hồ phú”. Cụ đã được đặt tên đường tại nhiều thành phố lớn ở Việt Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, TT-Huế.
  • Cao Bá Quát (1808 -…): Nhà thơ nổi tiếng, đỗ Hương cống (cử nhân). Đã được đặt tên đường ở nhiều thành phố lớn ở Việt Nam.
Back to top button