Wiki

Phân cấp hành chính Việt Nam


1
50
2
32
58
3
4
9
10
15
16
8
11
14
13
5
7
12
19
18
17
6
20
21
22
24
23
25
26
27
28
29
30
31
33
34
35
36
37
38
39
44
40
43
41
42
45
46
47
48
49
51
56
52
53
57
55
63
59
54
60
61
62
*
**
***
****

Bản đồ hành chính Việt Nam

Chú thích:

*-Đảo Phú Quốc (thành phố Phú Quốc, Kiên Giang)

**-Côn Đảo (huyện Côn Đảo, Bà Rịa – Vũng Tàu)

***-Quần đảo Hoàng Sa (huyện Hoàng Sa, Đà Nẵng)

****-Quần đảo Trường Sa (huyện Trường Sa, Khánh Hoà)

Phân cấp hành chính Việt Nam là sự phân chia các đơn vị hành chính của Việt Nam thành từng tầng, cấp theo chiều dọc. Theo đó cấp hành chính ở trên (cấp trên) sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc đối với cấp hành chính ở dưới (hay cấp dưới).

Phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay theo Điều 110 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương gồm 3 cấp hành chính là:

  • Cấp tỉnh: Tỉnh/ Thành phố trực thuộc trung ương
  • Cấp huyện: Quận/ Huyện/ Thị xã/ Thành phố thuộc tỉnh/ Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
  • Cấp xã: Xã/ Phường/ Thị trấn.

Ngoài ra còn có đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.

Dưới xã có làng/thôn/bản/buôn/sóc/ấp…, dưới phường/thị trấn có khu dân cư/khu phố/khu vực/khóm/ấp. Khi lượng dân cư đông thì thôn làng dưới xã có thể chia ra các xóm, còn khu dân cư ở phường/thị trấn thì chia ra tổ dân phố, dưới tổ dân phố còn chia ra cụm dân cư. Đây là cấp cơ sở không pháp nhân, phục vụ cho quản lý dân cư nhưng không được xem là cấp hành chính, và những người tham gia quản lý hoạt động ở cấp này chỉ hưởng phụ cấp công tác mà không được coi là công chức.

Lịch sử


Thời quân chủ

Bài chi tiết: Phân cấp hành chính Việt Nam thời quân chủ

Thời Pháp thuộc

Sau khi bình định toàn bộ Việt Nam, Pháp tiến hành chia nước ta làm 3 xứ: Bắc Kỳ và Trung Kỳ đặt dưới chế độ bảo hộ và Nam Kỳ đặt dưới chế độ thuộc địa, tất cả đều trực thuộc liên bang Đông Dương. Về cơ bản, hệ thống hành chính không có nhiều sự thay đổi rõ rệt so với thời nhà Nguyễn. Pháp giữ nguyên các cấp hành chính như cũ, chỉ thực hiện một số thay đổi nhằm áp đặt sự cai trị. Cụ thể, các cấp hành chính như sau:

  • Cấp tỉnh: Có các tỉnh, thành phố và đạo quan binh do người Pháp đứng đầu.
  • Cấp phủ: Có các phủ ở đồng bằng và châu ở miền núi. Các cấp này do người bản xứ đứng đầu. Ngoài ra trong cấp này còn có các tiểu quân khu ở các đạo quan binh, do các sĩ quan Pháp đứng đầu.
  • Cấp huyện: Người bản xứ quản lý.
  • Cấp xã: Người bản xứ quản lý. Tại các thành phố, cấp tương đương là quận (arrondissement), chỉ nằm dưới cấp tỉnh.

Tại Nam Kỳ, các cấp hành chính đều do người Pháp quản lý.

Thời kỳ 1945 – 1954

Vào thời đế quốc Việt Nam, Việt Nam không còn là ba xứ riêng biệt. Các cấp hành chính gần như không thay đổi, tất cả đều do người Việt quản lý.

Sau cách mạng tháng Tám, theo điều 57, chương V, Hiến pháp năm 1946:

Nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã.

Như vậy vào thời kỳ này các đơn vị hành chính của Việt Nam được phân thành 4 cấp, ngoài các cấp xã, huyện, tỉnh như sau này thì vẫn còn có cấp Bộ (cả nước có 3 Bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ). Cấp phủ, châu bị bãi bỏ.

Các tỉnh thời kỳ 1945 – 1946 (69 tỉnh, thành phố):

  • Bắc Bộ có 27 tỉnh và 2 thành phố:
1. TP. Hà Nội
2. TP. Hải Phòng
3. Bắc Giang
4. Bắc Kạn
5. Bắc Ninh 6. Cao Bằng
7. Hà Đông
8. Hà Giang
9. Hà Nam
10. Hải Dương 11. Hải Ninh
12. Hòa Bình
13. Hưng Yên
14. Kiến An
15. Lai Châu 16. Lạng Sơn
17. Lào Cai
18. Nam Định
19. Ninh Bình
20. Phú Thọ 21. Phúc Yên
22. Quảng Yên
23. Sơn La
24. Sơn Tây
25. Thái Bình 26. Thái Nguyên
27. Tuyên Quang
28. Vĩnh Yên
29. Yên Bái
  • Trung Bộ có 18 tỉnh và 1 thành phố:
1. TP. Đà Nẵng
2. Thanh Hóa
3. Nghệ An
4. Hà Tĩnh 5. Quảng Bình
6. Quảng Trị
7. Thừa Thiên
8. Quảng Nam 9. Quảng Ngãi
10. Bình Định
11. Phú Yên
12. Khánh Hòa 13. Phan Rang
14. Bình Thuận
15. Kon Tum
16. Plây Cu 17. Darlac
18. Lâm Viên (Lang Biang)
19. Đồng Nai Thượng
  • Nam Bộ có 20 tỉnh và 1 thành phố:
1. Tp. Sài Gòn
2. Chợ Lớn
3. Gia Định 4. Bà Rịa
5. Biên Hòa
6. Thủ Dầu Một 7. Tây Ninh
8. Tân An
9. Mỹ Tho 10. Bến Tre
11. Vĩnh Long
12. Trà Vinh 13. Sa Đéc
14. Châu Đốc
15. Hà Tiên 16. Long Xuyên
17. Cần Thơ
18. Sóc Trăng 19. Gò Công
20. Rạch Giá
21. Bạc Liêu

Tuy nhiên, đơn vị hành chính cấp Bộ (của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) chỉ tồn tại trong khoảng vài năm rồi bỏ. Nhưng chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp thì lập chức Thủ hiến cho mỗi Phần (chính là Bộ theo cách gọi của họ).

Ngày 19/7/1946, thành lập Đặc khu Hồng Gai trên cơ sở tách khỏi tỉnh Quảng Yên.

Ngày 12/9/1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), thay đổi sắp xếp lại hành chính 2 tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên để thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu.

Ngày 12/2/1950, thành lập tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên.

Tháng 8/1950, thành lập đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn trên cơ sở thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn.

Tháng 10/1950, thành lập tỉnh Long Châu Hà trên cơ sở sáp nhập 2 tỉnh Long Châu Hậu và Hà Tiên.

Tháng 6/1951, 2 tỉnh Long Châu Tiền và Sa Đéc hợp nhất thành tỉnh Long Châu Sa.

Tháng 5/1951, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ đã thay đổi sắp xếp hành chính nhiều tỉnh ở Nam Bộ như sau:

  • Tỉnh Rạch Giá bị giải thể và bị xé lẻ, nhập vào các tỉnh Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng.
  • Hợp nhất 3 tỉnh Mỹ Tho, Tân An, Gò Công thành 1 tỉnh có tên là tỉnh Mỹ Tho (còn gọi là tỉnh Tân Mỹ Gò).
  • Hợp nhất 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh lại thành 1 tỉnh có tên là tỉnh Vĩnh Trà.
  • Hợp nhất 2 tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn lại thành 1 tỉnh có tên là tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn (còn gọi là tỉnh Bà Chợ).
  • Hợp nhất 2 tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa lại thành 1 tỉnh có tên là tỉnh Thủ Biên.
  • Hợp nhất 2 tỉnh Gia Định và Tây Ninh lại thành 1 tỉnh có tên là tỉnh Gia Định Ninh.

Các tỉnh mới này ở Nam Bộ tồn tại đến tháng 8/1954 thì giải thể, phân chia đơn vị hành chính trở lại giống như thời gian trước năm 1947.

Thời kỳ 1954 – 1975

Miền Bắc Việt Nam

Trong thành phố trực thuộc trung ương, thời kỳ 1954-1958 có các cấp hành chính quận (ở cả nội thành và ngoại thành), dưới quận có khu phố (ở nội thành) và xã (ở ngoại thành, ngoài ra có phố là cấp không thông dụng, như phố Gia Lâm ở Hà Nội). Năm 1958, nội thành bỏ quận, thay bằng khu, dưới khu là khối dân phố, ngoại thành có quận (từ năm 1961 đổi là huyện) và xã. Năm 1974, đổi tên gọi khối dân phố thành cấp tiểu khu.

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1954 có 34 đơn vị hành chính:

  • Bắc Bộ có 26 tỉnh, 2 thành phố trực thuộc trung ương và 1 đặc khu:
1. TP. Hà Nội
2. TP. Hải Phòng
3. Bắc Giang
4. Bắc Cạn
5. Bắc Ninh 6. Cao Bằng
7. Hà Đông
8. Hà Giang
9. Hà Nam
10. Hải Dương 11. Hải Ninh
12. Hòa Bình
13. Hưng Yên
14. Kiến An
15. Lai Châu 16. Lạng Sơn
17. Lào Cai
18. Nam Định
19. Ninh Bình
20. Phú Thọ 21. Quảng Yên
22. Sơn La
23. Sơn Tây
24. Thái Bình
25. Thái Nguyên 26 Tuyên Quang
27. Vĩnh Phúc
28. Yên Bái
29. Đặc khu Hồng Gai
  • Trung Bộ có 4 tỉnh và 1 đặc khu:
30. Thanh Hóa
31. Nghệ An 32. Hà Tĩnh
33. Quảng Bình 34. Đặc khu Vĩnh Linh (vốn thuộc tỉnh Quảng Trị)

Năm 1955: Tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hòn Gai hợp nhất thành khu Hồng Quảng; bỏ 2 tỉnh Lai Châu, Sơn La để lập Khu tự trị Thái Mèo. Cả nước có 29 tỉnh thành.

Theo Hiến pháp năm 1959, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phân cấp hành chính như sau:

Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phân định như sau:
  • Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương.
  • Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã.
  • Huyện chia thành xã, thị trấn.
  • Các đơn vị hành chính trong khu vực tự trị do luật định (chương VII, Điều 78).

Như vậy ở thời kỳ này cấp Bộ đã không còn, nhưng lại xuất hiện các khu tự trị. Miền Bắc Việt Nam có 2 khu tự trị, được thành lập từ năm 1955-1956: Khu tự trị Tây Bắc (ban đầu gọi là Khu tự trị Thái Mèo) và Khu tự trị Việt Bắc. Khu tự trị Tây Bắc lúc đầu chỉ có các cấp châu (tương đương huyện) và xã, bỏ cấp tỉnh, nhưng đến năm 1963 đã lập lại các tỉnh. 2 khu tự trị này tồn tại đến tháng 12/1975.

Năm 1961, Quốc hội quyết định mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm một số xã của Hà Đông, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hưng Yên.

Năm 1962, 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh hợp nhất thành tỉnh Hà Bắc, tỉnh Kiến An nhập vào thành phố Hải Phòng; tái lập 2 tỉnh Lai Châu, Sơn La từ Khu tự trị Thái Mèo và thành lập tỉnh Nghĩa Lộ thuộc khu tự trị Tây Bắc. Cả nước có 30 tỉnh thành.

Năm 1963, tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng hợp nhất thành tỉnh Quảng Ninh. Cả nước có 30 tỉnh thành.

Năm 1965, 2 tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái; 2 tỉnh Hà Nam, Nam Định hợp nhất thành tỉnh Nam Hà, 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Tây. Cả nước có 27 tỉnh thành.

Năm 1968, 2 tỉnh Hưng Yên, Hải Dương hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng; 2 tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú. Cả nước có 25 tỉnh thành.

Đến năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có 2 thành phố trực thuộc trung ương và 23 tỉnh:

1. Tp Hà Nội
2. Tp Hải Phòng
3. Bắc Thái
4. Cao Bằng
5. Hà Giang 6. Hà Tây
7. Hải Hưng
8. Hà Bắc
9. Hòa Bình
10. Lào Cai 11. Lạng Sơn
12. Nam Hà
13. Nghệ An
14. Hà Tĩnh
15. Ninh Bình 16. Quảng Bình
17. Quảng Ninh
18. Lai Châu
19. Sơn La
20. Nghĩa Lộ 21. Yên Bái
22. Thái Bình
23. Thanh Hóa
24. Tuyên Quang
25. Vĩnh Phú

Miền Nam Việt Nam

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa phân ra các cấp hành chính: tỉnh, quận (tương đương với quận và huyện ngày nay), xã; ngoài ra còn có 10 thị xã tự trị. Toàn miền Nam Việt Nam từ khoảng năm 1965 chia thành 44 tỉnh.

Về mặt quân sự, trên cấp tỉnh còn có Vùng chiến thuật (lập ra năm 1961) và đến năm 1970 đổi tên thành Quân khu. Tất cả miền Nam Việt Nam có 4 Vùng chiến thuật (Quân khu). Cấp tỉnh đóng trụ sở tại thị xã, về mặt quân sự gọi là tiểu khu, cấp quận đóng trụ sở tại thị trấn quận lị, về mặt quân sự gọi là chi khu.

Tỉnh Gia Định về sau cùng với thủ đô Sài Gòn trở thành Biệt khu Thủ đô, đứng đầu là Đô trưởng.

Từ năm 1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chỉ dùng tên gọi quận cho khu vực nội thành thành phố, các quận còn lại đổi thành huyện.

Sau khi thống nhất đất nước

Phân cấp hành chính Việt Nam Phân cấp hành chính Việt Nam theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 (sửa đổi 2019)

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 , căn cứ vào Hiến pháp Việt Nam 2013 được thông qua tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII ngày 19/06/2015 quy định tại chương I:

CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

  • Điều 2. Đơn vị hành chính:

Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:

1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh)

2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện)

3. Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)

4. Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập

Theo đó Việt Nam có 3 cấp hành chính:

Cấp tỉnh

Sau nhiều lần chia tách và nhập lại, tính đến nay, Việt Nam có 63 đơn vị hành chính cấp Tỉnh, bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương và 58 tỉnh (tương ứng với chữ số được đánh dấu trên “bản đồ Hành chính Việt Nam”).

  • 5 thành phố trực thuộc Trung ương:
1. Hà Nội (thủ đô) 2. Thành phố Hồ Chí Minh 3. Hải Phòng 4. Đà Nẵng 5. Cần Thơ
  • 58 tỉnh:
6. Lai Châu
7. Điện Biên
8. Lào Cai
9. Hà Giang
10. Cao Bằng
11. Lạng Sơn
12. Yên Bái
13. Tuyên Quang
14. Bắc Kạn
15. Thái Nguyên 16. Sơn La
17. Phú Thọ
18. Vĩnh Phúc
19. Bắc Ninh
20. Bắc Giang
21. Quảng Ninh
22. Hòa Bình
23. Hưng Yên
24. Hải Dương
25. Thái Bình 26. Hà Nam
27. Nam Định
28. Ninh Bình
29. Thanh Hóa
30. Nghệ An
31. Hà Tĩnh
32. Quảng Bình
33. Quảng Trị
34. Thừa Thiên Huế
35. Quảng Nam 36. Quảng Ngãi
37. Kon Tum
38. Gia Lai
39. Bình Định
40. Phú Yên
41. Đắk Lắk
42. Đắk Nông
43. Khánh Hòa
44. Lâm Đồng
45. Ninh Thuận 46. Bình Thuận
47. Bình Phước
48. Tây Ninh
49. Bình Dương
50. Đồng Nai
51. Bà Rịa – Vũng Tàu
52. Long An
53. Đồng Tháp
54. Tiền Giang
55. Bến Tre 56. An Giang
57. Vĩnh Long
58. Kiên Giang
59. Hậu Giang
60. Trà Vinh
61. Sóc Trăng
62. Bạc Liêu
63. Cà Mau

Cấp huyện

Bài chi tiết: Đơn vị hành chính cấp huyện (Việt Nam), Huyện (Việt Nam), và Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam

Đây là cấp hành chính cấp 2 của Việt Nam, thấp hơn (về thẩm quyền), và thông thường thì cấp này cũng có quy mô dân số, diện tích, kinh tế nhỏ hơn cấp tỉnh. Đây là cấp hành chính cao hơn cấp xã, phường, thị trấn. Cấp hành chính này có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo cấp hành chính nó trực thuộc, gồm “Huyện“, “Thị xã“, “Quận“, “Thành phố thuộc tỉnh“, “Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương“, gọi tuần tự theo mức đô thị hóa. Trong đó, quận và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương không có trong tỉnh, chỉ áp dụng cho các đơn vị nội thành của thành phố thuộc trung ương. Thành phố thuộc tỉnh không có trong thành phố trực thuộc trung ương.

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương được Quốc hội khóa XIII thông qua 19/6/2015, chính thức có hiệu lực từ 1/1/2016 đã bổ sung thêm đơn vị hành chính Thành phố thuộc Thành phố trực thuộc trung ương. Điều này nhằm tạo điều kiện cho mục tiêu thực hiện Đề án thành lập chính quyền đô thị của TP HCM. Đến ngày 9/12/2020, Quốc hội khóa 14 chính thức thông qua việc thành lập đơn vị Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương đầu tiên của cả nước tại Thành phố Hồ Chí Minh là Thành phố Thủ Đức, bằng việc sáp nhập 3 quận Thủ Đức cũ, quận 2 và quận 9.

Cấp xã

Đây là đơn vị hành chính cấp cơ sở, thấp hơn cấp Huyện. Gọi xã, phường, thị trấn là tùy theo mức đô thị hóa. Trong đó, phường không có trong huyện, xã không có trong quận, thị trấn chỉ có trong huyện.

Có 4 đơn vị hành chính cấp huyện không có đơn vị cấp xã (đều là các huyện đảo), bao gồm: Hoàng Sa, Lý Sơn, Côn Đảo, Cồn Cỏ.

Phân cấp địa lý


Việt Nam được chia thành 3 miền địa lý, mỗi miền lại được chia thành nhiều vùng địa lý.

I. Bắc Bộ:
A. Tây Bắc Bộ
B. Đông Bắc Bộ
C. Đồng bằng sông Hồng
Đôi khi 2 vùng Tây Bắc và Đông Bắc được gộp chung lại thành vùng Trung du và miền núi phía Bắc

II. Trung Bộ:
A. Bắc Trung Bộ
B. Duyên hải Nam Trung Bộ
C. Tây Nguyên

III. Nam Bộ:
A. Đông Nam Bộ
B. Đồng bằng sông Cửu Long

Phân cấp bầu cử


Bài chi tiết: Đơn vị bầu cử Việt Nam

Trong thời điểm bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, mỗi tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương được chia thành nhiều đơn vị bầu cử. Mỗi đơn vị bầu cử lại được chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu. Số lượng đơn vị bầu cử ở mỗi tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương tùy vào dân số ở khu vực đó.

Trong cuộc bầu cử năm 2011, Việt Nam có 183 đơn vị bầu cử và 89.960 khu vực bỏ phiếu.

Xem thêm


  • Chính quyền địa phương ở Việt Nam
  • Thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam)
  • Tỉnh (Việt Nam)
  • Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam)
  • Thành phố thuộc tỉnh (Việt Nam)
  • Quận (Việt Nam)
  • Thị xã (Việt Nam)
  • Huyện (Việt Nam)
  • Phường (Việt Nam)
  • Thị trấn (Việt Nam)
  • Xã (Việt Nam)
Check Also
Close
Back to top button