Wiki

Khố

Một người đàn ông Korneo đóng khố

Khố là một trong những loại trang phục cổ xưa nhất của nhân loại. Nó là một tấm vải dài, khổ hẹp dùng để để bọc và che vùng hạ bộ bằng cách quấn tựa vào vòng thắt lưng.

Trước đây nhiều vùng sử dụng nó, hiện tại vẫn còn được sử dụng hạn chế như ở vùng cao, vùng xa nơi còn lạc hậu, ngoài ra một số nước giữ gìn nó như bản sắc văn hóa khi có hội hè.

Lịch sử và các loại


Khố Một hình thức của cái khố mặc cùng với một chiếc áo choàng của người Aztec,

Đóng khố được mặc trong các xã hội không có quần áo như là một đồ lót hoặc áo tắm bởi đô vật và nông dân. Ở Sri Lanka và Ấn Độ nó được gọi là kaupinam hoặc khố ở Việt Nam. Khố là một hình thức cơ bản của trang phục. Đàn ông mặc khố như một phần của quần áo để che bộ phận sinh dục của họ chứ không phải là mông ở hầu hết các xã hội trong suốt lịch sử của con người.

Khố Hai người đàn ông dân tộc Mojave đóng khố

Khố là một miếng vải, bark- libe, da thông qua giữa hai chân và che bộ phận sinh dục. Một cái khố là một dải vật liệu (vỏ cây, vải, da) được thông qua giữa hai đùi và được gắn vào thân người bằng một vành đai bao quanh thắt lưng. Một cái khố là một đoạn khăn dài, được thông qua giữa hai đùi và quấn quanh thắt lưng. Khố là phục trang thể hiện nhân phẩm của những người theo truyền thống mặc chúng. Có nhiều cách đóng khố. Cả Borneo Sirat và Ấn Độ dùng vải luồn giữa hai chân để che bộ phận sinh dục của một người đàn ông. Cái khố của người bản địa châu Mỹ cũng tương tự. Trong thời tiền Colombus, tại Nam Mỹ, đàn ông người Inca mặc một mảnh vải ở giữa hai chân của họ được giữ bằng dây hoặc băng như một vành đai. Vải phủ phía trước và sau như một chiếc tạp dề và luôn luôn được trang hoàng. Cái khố tại Nhật Bản được gọi là etchu fundoshi. Một số nền văn hóa tại Amazon vẫn mặc một kiểu khố nguyên thủy. Đàn ông Nhật Bản cho đến gần đây mặc một cái khố được biết đến như một fundoshi. Các fundoshi là miếng vải (bông hoặc lụa) rộng 35 cm (14 in.) được luồn qua giữa hai đùi và để che bộ phận sinh dục.

Một cái khố là một dải vật liệu – thường là hẹp hình chữ nhật – qua lại giữa hai đùi và bao quanh người bởi một vành đai hoặc chuỗi. Thông thường, các cánh tà rủ xuống ở mặt trước và sau, như khố sirat của dân tộc Dayak – Malaysia, khố bahag của dân tộc Igorot – Philippines và khố của các dân tộc Tây Nguyên – Việt Nam…

Ở Việt Nam


Ngày xưa cũng được sử dụng rộng rãi, có thể thấy điều này qua các hoa văn trên trống đồng hay dấu ấn trong những câu truyện cổ tích, truyền thuyết (như truyền thuyết về Chử Đồng Tử…), đến thời kì Pháp thuộc thì có lính khố xanh, lính khố đỏ tuy họ không mặc khố nhưng có đeo thắt lưng buông thõng tương tự như cái khố. Tại miền Bắc Việt Nam, đến đầu thế kỷ XX, tại một số địa phương dân chúng vẫn còn sử dụng khố.

Ở Việt Nam, hiện nay, có lẽ chỉ còn duy nhất vùng Tây Nguyên là còn loại trang phục truyền thống này nhưng cũng chỉ người già mới hay sử dụng. Nó cũng chỉ còn được dùng rộng rãi trong các ngày lễ hội. Ở Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk còn lưu giữ được và trưng bày chiếc khố làm từ vỏ cây.

Phân loại khố tại Việt Nam như sau:

  • Theo chất liệu cấu thành: như khố dây (hay khố rợ), khố mo, khố gai, khố vải…
  • Theo biện pháp kĩ thuật chế tác: như khố bện (đan thô sơ), khố dệt…
  • Theo môtip dân tộc: trang trí hoa văn kĩ thuật “kteh” của Gia Rai, khố dệt bằng hoa văn mang tên “kru-êch” – khố Kru-êch của người Ê Đê…
  • Khố

    Nông dân miền Bắc Việt Nam đóng khố

  • Khố

    Hai người đàn ông đóng khố đấu vật tại miền Bắc Việt Nam

  • Khố

    Người K’Ho tại Việt Nam

Check Also
Close
Back to top button