Wiki

Grumman F6F Hellcat

F6F Hellcat
Kiểu Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất Grumman
Chuyến bay đầu tiên 26 tháng 6 năm 1942
Được giới thiệu 1943
Tình trạng nghỉ hưu
Khách hàng chính Hải quân Hoa Kỳ
Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ
Hải quân Hoàng gia Anh
Hải quân Pháp
Được chế tạo 1942-1945
Số lượng sản xuất 12.275

Grumman F6F Hellcat (Mèo Hỏa Ngục) là một kiểu máy bay tiêm kích do hãng Grumman, Hoa Kỳ thiết kế và chế tạo. Hellcat cùng với chiếc Vought F4U Corsair trở nên những máy bay tiêm kích chủ lực trang bị cho tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ vào nửa sau của Thế Chiến II.

Related Articles

Hellcat là kiểu máy bay thành công nhất trong lịch sử hải quân, tiêu diệt 5.171 máy bay địch trong phục vụ Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (5.163 chiếc tại Thái Bình Dương và 8 chiếc trong chiến dịch miền Nam nước Pháp), cộng thêm 52 chiến tích nữa của Hải quân Hoàng gia Anh trong Thế chiến II. Sau chiến tranh, Hellcat được nhanh chóng rút khỏi phục vụ tiền tuyến, và chính thức nghỉ hưu khỏi vai trò tiêm kích bay đêm trong các phi đội hỗn hợp vào năm 1954.

Thiết kế và phát triển


Grumman F6F Hellcat Grumman F6F-3 Hellcat, 1 tháng 1-1943
Grumman F6F Hellcat F6F-5 sẵn sàng cất cánh từ tàu sân bay USS Randolph
Grumman F6F Hellcat Grumman F6F-3 Hellcat trên tàu sân bay USS Yorktown (CV-10) đang mở cánh ra trước khi được phóng đi
Grumman F6F Hellcat Grumman F6F-3 Hellcat vào cuối năm 1942 sơn màu ngụy trang xanh-xám
Grumman F6F Hellcat Tàu sân bay Yorktown trong chiến dịch ném bom đảo Marcus ngày 31 tháng 8-1943: Thiếu tá “Jimmy” Flatley lái chiếc F6F-3 Hellcat chuẩn bị cất cánh
Grumman F6F Hellcat Những chiếc Grumman F6F-3 Hellcat xếp cánh đậu trên sàn đáp trong khi chiếc Grumman Avenger đang hạ cánh

Chiếc Hellcat lần đầu tham chiến chống Nhật Bản vào ngày 1 tháng 9 năm 1943 khi máy bay tiêm kích từ tàu sân bay USS Independence (CVL-22) bắn rơi một thủy phi cơ trinh sát. Không lâu sau, vào ngày 23 tháng 11, Hellcat đọ chiến cùng máy bay Nhật trên vùng đảo Tarawa, bắn rơi 30 Mitsubishi Zero và mất một F6F. Trên không phận Rabaul, New Britain ngày 11 tháng 11 năm 1943, Hellcat giao chiến cả ngày với nhiều máy bay Nhật bao gồm A6M Zero, bắn rơi 100 mà chỉ mất vài chiếc F6Fs. Chiến thuật “Thach Weave” đã phát triển thành một chiến thuật đội hình vào thời đó: mỗi khi một máy bay tiêm kích địch tiến vào một bộ phận máy bay Mỹ, những chiếc Hellcat bị đuổi bắt sẽ cắt về phía đội hình đối diện trong khi đồng đội sẽ bay chéo vào buộc máy bay Nhật phải từ bỏ theo đuổi hoặc phải phơi ra trước vũ khí của Hellcat. Đây là bước khởi đầu của chiến thuật “phi đội” vẫn được dùng cho đến ngày nay, cho phép máy bay Mỹ ít cơ động hơn như chiếc Hellcat tranh chấp với đối thủ Nhật nhanh nhẹn hơn.

Hellcat từ đó hầu như tham gia tất cả các cuộc đối đầu với Không lực Nhật Bản. F6F của Hải quân và Thủy quân Lục chiến bay 66.530 phi vụ chiến đấu (chiếm 45% phi vụ chiến đấu toàn cuộc chiến, trong đó 62.386 phi vụ cất cánh từ tàu sân bay) tiêu diệt 5.163 máy bay đối phương (chiếm 56% tổng số tiêu diệt của Hải quân và Thủy quân Lục chiến toàn cuộc chiến) và mất 270 Hellcat (tỉ lệ thắng:bại chung là 19:1). Tính năng vượt trội của máy bay so với các đối thủ Nhật là: 13:1 đối với Mitsubishi A6M, 9.5:1 đối với Nakajima Ki-84, 28:0 đối với Kawanishi N1K-J, và 3.7:1 đối với Mitsubishi J2M trong năm cuối cùng của cuộc chiến. Trong vai trò tấn công mặt đất, Hellcat thả 6.503 tấn bom.

F6F trở nên máy bay tạo Phi công “Ách” chủ yếu của Hoa Kỳ, với 306 “Ách” Hellcat. Nó là máy bay tiêm kích chính yếu của Hải quân tham gia trận đánh Biển Philippine, nơi mà quá nhiều máy bay Nhật bị bắn hạ đến mức phi công Hải quân gọi trận này là “Cuộc săn vịt trời Marianas vĩ đại”. F6F chiếm tỉ lệ 75% các chiến công không chiến của Hải quân tại Thái Bình Dương. Hellcat tiêm kích ban đêm trang bị radar xuất hiện vào đầu năm 1944.

Hải quân Hoàng gia Anh nhận được 1.263 F6F theo Luật Cho mượn-Cho thuê và gọi nó là Gannet I. Tên Hellcat sau này được gọi vào đầu năm 1943 cho đơn giản, với F6F-3 gọi là Hellcat F I; F6F-5, Hellcat F II và F6F-5N, Hellcat NF II. Chúng tham gia chiến sự tại Na Uy, Địa Trung Hải, và Trung Đông. Một số được gắn thiết bị trinh sát hình ảnh giống như F6F-5P, đặt tên là Hellcat FR II. Hellcats Hải quân Anh, cũng như các máy bay khác trong Luật Cho mượn-Cho thuê, được nhanh chóng thay bằng máy bay Anh sau khi kết thúc chiến tranh, và chỉ có 2 trong số 12 phi đội trang bị Hellcat vào ngày chiến thắng còn giữ Hellcat tính đến cuối năm 1945 . Hai phi đội này cũng bị giải thể vào năm 1946. Khi phục vụ tại Anh, Hellcat tỏ ra tương xứng ngay cả với những máy bay tiêm kích chủ yếu của Đức Quốc xã Bf 109 và Fw 190.

Sau chiến tranh, Hellcat được thay bằng Grumman F8F Bearcat có tính năng vượt hơn F6F nhưng phát triển quá trễ để tham gia cuộc chiến. Hellcat tiếp tục đảm nhiệm các vai trò ở tuyến sau của Hải quân Mỹ bao gồm huấn luyện. Hải quân Pháp được trang bị F6F-5 Hellcat và sử dụng chúng tại Đông Dương. Hải quân Uruguay cũng sử dụng chúng cho đến đầu những năm 1960.

Các bên sử dụng


Grumman F6F Hellcat Argentina
Hải quân Argentina
Grumman F6F Hellcat Pháp
Hải quân Pháp
Grumman F6F Hellcat Paraguay
Grumman F6F Hellcat Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Hải quân Hoàng gia Anh
Grumman F6F Hellcat Hoa Kỳ
Hải quân Hoa Kỳ, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
Grumman F6F Hellcat Uruguay
Hải quân Uruguay

Đặc điểm kỹ thuật (F6F-5 Hellcat)


Grumman F6F Hellcat Phục vụ sau chiến tranh: F6F-3K sơn màu cam dùng làm mục tiêu giả

Tham khảo: Quest for Performance, Jane’s Fighting Aircraft of World War II, và Standard Aircraft Characteristics

Đặc tính chung

  • Đội bay: 01 người
  • Chiều dài: 10,24 m (33 ft 7 in)
  • Sải cánh: 13,06 m (42 ft 10 in)
  • Chiều cao: 3,99 m (13 ft 1 in)
  • Diện tích bề mặt cánh: 31 m² (334 ft²)
  • Kiểu cánh: NACA 23015.6 mod root; NACA 23009 tip
  • Diện tích cản: 0,65 m² (7,05 ft²)
  • Hệ số nâng/lực cản: 0,0211
  • Tỉ lệ dài/rộng cánh: 5,5
  • Trọng lượng không tải: 4.190 kg (9.238 lb)
  • Trọng lượng có tải: 5.714 kg (12.598 lb)
  • Trọng lượng cất cánh lớn nhất: 6.990 kg (15.415 lb)
  • Thể tích nhiên liệu: 946 L (250 US gal) chứa bên trong, và tối đa 3 thùng nhiên liệu phụ vứt được dung tích 568 L (150 US gal) mỗi thùng.
  • Động cơ: 1 x động cơ Pratt & Whitney R-2800-10W “Double Wasp” turbin cánh quạt bố trí hình tròn 2 hàng, có siêu tăng áp 2-tầng 2-tốc độ, công suất 2.000 mã lực (1.500 kW)
  • Cánh quạt: 3 cánh kiểu Hamilton Standard, đường kính 4,0 m (13 ft 1 in)

Đặc tính bay

Grumman F6F Hellcat

  • Tốc độ lớn nhất: 610 km/h (330 knot; 380 mph)
  • Tốc độ chòng chành: 135 km/h (73 knot; 84 mph)
  • Tầm bay tối đa: 2.460 km (1.330 nm; 1.530 mi)
  • Bán kính chiến đấu: 1.520 km (820 nm; 945 mi)
  • Trần bay: 11.370 m (37.300 ft)
  • Tốc độ lên cao: 17,8 m/s (3.500 ft/min); lên 6.100 m (20.000 ft) trong 7,7 phút
  • Lực nâng của cánh: 184 kg/m² (37,7 lb/ft²)
  • Tỉ lệ công suất/khối lượng: 0,26 kW/kg (0,16 hp/lb)
  • Tỉ lệ lực nâng/lực cản: 12,2
  • Đường băng cất cánh: 244 m (799 ft)

Vũ khí

  • Súng:
    • 6 x súng máy 12,7 mm Browning M2, với 400 viên đạn mỗi khẩu, hoặc
    • 2 × pháo 20 mm, 225 quả đạn mỗi khẩu, và 4 × súng máy 12,7 mm Browning, với 400 viên đạn mỗi khẩu
  • Bom: mang được tổng cộng 1.800 kg (4.000 lb) bao gồm:
    • Bom:
      • 1 × 450 kg (1.000 lb), 2 × 250 lb (110 kg) hay 6 × 100 lb (45 kg) bom dưới cánh
    • Ngư lôi:
      • 1 × bom 910 kg (2.000 lb) hoặc
      • 1 × Mk.13-3 mang dưới đế trung tâm
  • Rocket:
    • 6 x rocket HVAR 127 mm (5 in), hoặc
    • 2 × rocket Tiny Tim 298 mm (11¾ in) không điều khiển

Check Also
Close
Back to top button