Wiki

Adventure Time

Bộ phim hoạt hình truyền hình dài tập MĩBản mẫu:SHORTDESC:Bộ phim hoạt hình truyền hình dài tập Mĩ
Bài này viết về loạt phim hoạt hình truyền hình dài tập năm 2010. Đối với phim ngắn, xem Adventure Time (phim ngắn).

Related Articles
Adventure Time
Giờ phiêu lưu
Adventure Time Adventure Time được viết bởi Pendleton Ward (‘bên phải) cho Cartoon Network. Rob Sorcher (bên trái) bị ảnh hưởng trong việc tìm mối quan hệ để cho bộ phim một cơ hội phát triển.

Bộ phim bắt nguồn từ một phim hoạt hình ngắn dài 7 phút cùng tên (phim này về sau được xem là tập chiếu thử đầu tiên của phim – post facto). Ward hoàn toàn tự mình sáng tạo ra tập phim ngắn đó, và hoàn tất phần sản xuất vào đầu năm 2006. Phim này được chiếu lần đầu trên Nicktoons Network vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, và phát lại như là một phần trong tuyển tập Random! Cartoons của Frederator Studiosvào ngày 7 tháng 12 năm 2008. Sau lần công chiếu đầu tiên đó, video trở thành một hiện tượng trên Internet. Frederator Studios sau đó đề cử loạt phim Adventure Time lên Nicktoons Network, nhưng bị từ chối tới 2 lần. Khi bản quyền của Nicktoons với bộ phim hết hạn, Frederator—hãng sản xuất phim ngắn Adventure time—đã để xuất bộ phim với những kênh truyền hình khác. Một trong số đó có Cartoon Network, kênh này đã bày tỏ sự hứng thú với việc sản xuất loạt phim, nhưng buộc Ward phải cam kết chứng mình rằng phim ngắn mình sản xuất không chỉ là một one-hit wonder”. Rob Sorcher, giám đốc nội dung của Cartoon Network, đã dùng ảnh hưởng của mình để thuyết phục hãng cho bộ phim một cơ hội; ông nhận thấy ở phim này “có gì đó rất phiêu lưu … mang đậm tính tiểu thuyết [và] mới lạ” (“something that felt really indie … comic book-y [and] new”).

Adventure Time Patrick McHale từng là đạo diễn sáng tạo cho 2 mùa đầu của Adventure Time

Cartoon Network đã yêu cầu Ward nộp bản thảo nháp để xem xét, nhưng thay vào đó Frederator đã thuyết phục ông phác thảo sơ lược kịch bản, bởi “nó sẽ cung cấp cái nhìn tốt hơn những gì đang diễn ra trong đầu Pen”, theo lời kể từ phó chủ tịch Eric Homan của Frederator. Ward cùng người bạn thời sinh viên Patrick McHale và Adam Muto (người đầu tiên từng đảm nhiệm vai trò biên kịch, họa sĩ phân cảnh, và đạo diễn sáng tạo cho bộ phim trong vài mùa đầu, trong khi người thứ hai đảm nhiệm những vị trí trên trước khi trở thành nhà sản xuất của phim) bắt đầu lên ý tưởng, vừa tập trung “giữ lại những gì tốt đẹp của phim gốc [nhưng đồng thời] cải thiện chúng” (“keep[ing] the good things about the original short [while also] improv[ing] on” them). Sản phẩm đầu tiên của nhóm là kịch bản về Finn và Công chúa kẹo cao su trong cuộc hẹn spaghetti-supper date. Cartoon Network đã không chấp nhận cốt truyện này, do đó Ward, McHale, cùng Muto viết lại câu chuyện thành tập phim “The Enchiridion!”, một nỗ lực của họ trong việc tái tạo lại phong cách của phim ngắn gốc từng chiếu trên Nicktoons. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả, và Cartoon Network đã chấp thuận mùa đầu tiên vào tháng 9 năm 2008. “The Enchiridion!” là tập đầu tiên được sản xuất.

Ward cùng nhóm sản xuất bắt đầu làm bảng phân cảnh cho các tập phim đồng thời biên soạn kịch bản, nhưng Cartoon Network vẫn băn khoan về hướng phát triển của loạt phim mới này. McHale sau này hồi tưởng lại trong lần đề cử tập phim “Brothers in Insomnia” (đã bị hủy vì nhiều lí do), tràn ngập căn phòng hôm đó toàn các điều hành viên của Cartoon Network. Buổi đề cử đã thành công, nhưng đoàn sản xuất ngay sau đó bị nhấn chìm trong các câu hỏi về tính nghệ thuật của bộ phim. Cũng trong khoảng thời gian này, Cartoon Network đã hoàn việc sản xuất bộ phim để giải quyết các các vấn đề sáng tạo nêu trên. Một số các nhà biên kịch và hoạt họa sĩ bị ban quản lí Cartoon Network thay thế bằng ba nhà hoạt họa kì cựu của SpongeBob SquarePants: Derek Drymon (đảm nhiệm vai trò điều hành sản xuất cho mùa một của Adventure Time), Merriwether Williams (đảm nhiệm vai trò trưởng nhóm biên tập truyện cho mùa 1 và 2 của phim), và Nick Jennings (người trở thành đạo diễn nhiều mùa cho bộ phim). Đặc biệt là Drymon, người đóng vai trò trọng yếu trong việc đảm bảo Cartoon Network và đoàn làm phim luôn cùng chí hướng. Thurop Van Orman, tác giả của The Marvelous Misadventures of Flapjack, được thuê để hướng dẫn Ward và nhóm của ông trong 2 mùa đầu tiên. Cốt truyện của “Prisoners of Love” đã xoa dịu nhiều lo lắng mà một số điều hành viên của Cartoon Network từng bộ lộ.

Trong quá trình sản xuất mùa một, nhiều họa sĩ được thêm vào nhóm. Dan “Ghostshrimp” Bandit, một họa sĩ tự do từng viết kịch bản cho Flapjack, được thuê làm trưởng nhóm thiết kế cảnh nền cho phim; Ward muốn anh dựng cảnh nền sao cho bộ phim như đang “diễn ra trong thế giới của ‘Ghostshrimp'”. Ghostshrimp thiết kế các bối cảnh chính trong phim, bao gồm căn nhà cây của Finn và Jake, Vương quốc kẹo, và Vương quốc băng. Chủ nhiệm phần thiết kế nhân vật được trao cho Phil Rynda, người nắm vị trí này trong “2 mùa rưỡi”. Hầu hết các nhóm trưởng của đoàn làm phim (bao gồm Ward và McHale) ban đầu từng do dự khi đưa anh tham gia cùng đội sản xuất, nhưng họ bị thuyết phục bởi đạo diễn Larry Leichliter, người đảm bảo rằng Rynda có đủ tài năng để có thể vẽ theo nhiều phong cách khác nhau styles. Khi các nhà sản xuất chấp thuận, Rynda nhanh chóng bắt đầu thiết kế các nhân vật đơn giản nhưng vẫn hòa hợp với “phong cách mĩ thuật tự nhiên của Pen”. Cùng trong khoảng thời gian này, Rynda và McHale bắt đầu phác thảo hướng dẫn nghệ thuật cho loạt phim, nhằm giữ cho phong cách hoạt họa nhất quán với nhau. Với việc nhiều vị trí trưởng nhóm sản xuất đã có người đảm nhiệm, Ward chuyển sự chú ý của mình về việc chọn lựa họa sĩ biên kịch cho mùa thứ nhất. Ông tạo ra nhóm bao gồm phần lớn “những người trẻ tuổi hơn, ít kinh nghiệm”, nhiều người trong đó ông tìm thấy trên mạng Internet. Trong số này, có nhiều người từng có kinh nghiệm trong mảng tiểu thuyết độc lập, và Ward gọi họ là “những người rất thông minh” (“really smart, smartypants people”) và để nhóm này chịu trách nhiệm cho việc thêm thắt các ý tưởng đặc trưng và tâm linh vào bộ phim.

Trong bốn mùa rưỡi của phim, Ward đảm nhiệm vai trò tổng đạo diễn của Adventure Time. Khi phỏng vấn với tờ Rolling Stone, Ward tiết lộ mình từng vài lần xin từ chức trong quá trình sản xuất mùa 5. Là một người hướng nội, ông cảm thấy việc giao tiếp và chỉ đạo mọi người hằng ngày khá mệt mỏi. Sau khi Ward từ chức, Adam Muto trở thành tổng đạo diễn mới cho phim. Đến cuối năm 2014, Ward trở lại tiếp tục công việc họa sĩ phác thảo và viết cốt truyện. Sau tháng 11 năm 2014, ông ngừng việc thỉnh thoảng đóng góp cho các tập phim, nhưng vẫn theo dõi câu chuyện, đưa ra một vài lời khuyên, và phác thảo cho bộ phim một cách hạn chế.

Sản xuất

Biên kịch và phân cảnh

Adventure Time Đoàn làm phim Adventure Time tại lễ trao giải thường niên Peabody Award lần thứ 74 năm 2014 (Từ trái qua: Kent Osborne, Tom Herpich, Pendleton Ward, Pat McHale, Betty Ward, Jack Pendarvis, Rob Sorcher, Curtis LeLash và Adam Muto)

Về giọng điệu và thể loại của phim, Ward—tự nhận mình là người hâm mộ của thể loại cảm xúc mâu thuẫn, ví dụ như cảm giác “vừa vui vẻ lại vừa rùng rợn cùng một lúc”—đã mô tả đây là tác phẩm thuộc thể loại “hài đen” (dark comedy). Ông cũng nhắc đến trò chơi nhập vai giả tưởng Ngục tối và Rồng—thể loại yêu thích của nhiều thành viên trong nhóm biên kịch—như một nguồn cảm hứng sáng tác. In the United States, the series is rated TV-PG; Ward nói rằng mình không bao giờ muốn đẩy giới hạn của phim được phân loại PG, nhấn mạnh trong một lần phỏng vấn với Art of the Title rằng ông “không bao giờ nghĩ về chuyện phân loại phim … chúng tôi không thích thứ quá ghê tởm. Chúng tôi yêu thích những thứ xinh xắn và những điều dễ thương” (“never really even thought about the rating … we don’t like stuff that’s overly gross. We like cute stuff and nice things”). Ward đã dự liệu cho bộ phim có tính đồng nhất về logic vật lý, và mặc dù phép thuật tồn tại, các tác giả của tác phẩm cố gắng tạo ra sự nhất quán nội bộ trong cách mà các nhân vật tương tác với thế giới.

Trong phỏng vấn với The A.V. Club, Ward kể rằng quy trình biên soạn kịch bản của phim thường bắt đầu bằng việc các tác giả kể với nhau những gì họ đã làm ở tuần trước để tìm một số điều hài hước và xây dựng cốt truyện từ chúng. Ông còn nói, “Nhiều khi bí ý tưởng, chúng tôi bắt đầu với việc nói ra tất cả mọi thứ đang xuất hiện trong đầu mình, chúng thường là những điều tồi tệ nhất, và khi đó có người nghĩ rằng điều đó thật kinh khủng nhưng sẽ cho ông một ý tưởng tốt hơn, mọi việc cứ thế diễn ra một cách tự nhiên”. Vì luôn bận rộn với lịch biên soạn kịch bản và điều phối loạt phim truyền hình, các tác giả không hề có thời gian chơi Ngục tối và Rồng nữa, nhưng họ vẫn viết các câu chuyện mà mình muốn chơi trên trò chơi đó”. Thỉnh thoảng, các tác giả và họa sĩ phân cảnh ngồi lại với nhau và chơi các trò chơi viết truyện. Một trong số những trò thường chơi tên là exquisite corpse (xác chết hoàn mỹ); một tác giả biên kịch bắt đầu bằng cách viết đoạn mở đầu truyện trên một tờ giấy, và những người khác cố gắng hoàn thành phần còn lại. Tuy nhiên dù có một số tập phim (ví dụ như tập “Puhoy” của mùa thứ 5 và tập “Jake the Brick” của mùa 6) được tạo ra bằng trò chơi này, Ward thổ lộ rằng “các ý tưởng thường rất kinh khủng”. Cựu họa sĩ biên kịch và đạo diễn sáng tạo Cole Sanchez nó rằng các cốt truyện thường được tạo ra bằng cách mở rộng những ý tưởng hay nhờ vào trò chơi viết lách này, hoặc dựa vào ý tưởng đề xuất bởi họa sĩ biên kịch với hy vọng nó sẽ được xây dựng thành một tập phim hoàn chỉnh.

Tập tin:Adventure time storyboard.jpg Bảng vẽ phân cảnh kịch bản của Adam Muto cho tập phim “What Was Missing” với nội dung mô tả hành động, hội thoại và hiệu ứng âm thanh. Adventure Time là bộ phim theo trường phái được dẫn dắt với bảng vẽ kịch bản phân cảnh soạn trước. Điều này đồng nghĩa với việc họa sĩ vẽ bảng phân cảnh đồng thời là tác giả biên kịch, cho phép họ chủ động kiểm soát phác thảo nội dung hội thoại và hành động tùy ý.

Sau khi các tác giả để xuất vài cốt truyện, những ý tưởng đó được kết hợp lại thành 2 hoặc 3 trang phác thảo chứa “các nhịp điệu quan trọng”. Tập phim sau đó được đưa qua họa sĩ vẽ phân cảnh (thường gọi một cách thô tục là “boarders” (kẻ xâm nhập)). Trong khi nhiều phim hoạt hình dựa theo mô hình kịch bản đề xuất lên nhân viên điều hành của kênh, Cartoon Network cho phép Adventure Time được “xây dựng nhóm của mình một cách hưu cơ” (“build their own teams organically”) và giao tiếp bằng bảng vẽ phân cảnh kịch bản cũng như hình hoạt họa. Rob Sorcher kể rằng cách tiếp cận này được thực hiện bởi công ty đang hướng tới “đối tượng chủ yếu quan tấm đến hình ảnh”, và nhờ vậy mà cả nhà biên kịch cùng các họa sĩ có thể học hỏi và trưởng thành “bằng cách thực hiện công việc thực sự”. Các họa sĩ vẽ phân cảnh thường làm việc với những tập phim theo cặp, độc lập với những người còn lại, điều mà theo tác giả tự do David Perlmutter trong cuốn sách America Toons In, giúp chống lại sự sáng tạo nhàm chán và ngăn không để các tập phim “giống nhau trong cả nội dung lẫn phong thái nhịp điệu”. Họa sĩ vẽ phân cảnh kịch bản có một tuần để phác thảo (“thumbnail”) câu chuyện và ghi ra đầy đủ chi tiết hành động, hội thoại và trò đùa trong đó. Tổng đạo diễn và đạo diễn sáng tạo sẽ đánh giá chúng và thêm vào ghi chú cần thiết. Các họa sĩ sau đó được cho thêm một tuần để thực hiện thêm các ghi chú và “dọn dẹp” tập phim. Biên kịch và chỉnh sửa thường mất tới cả tháng để hoàn tất.

Đồ họa

Theo sau phần chỉnh sửa kịch bản, các diễn viên lồng tiếng sẽ ghi âm cho nhân vật của mình trong khi phần hoạt họa được thực hiện sau đó để giảm thời lượng cần thiết cho tập phim xuống còn 11 phút. Các họa sĩ chuyên môn sau đó sẽ thêm vào vật dụng, nhân vật và thiết kế cảnh nền. Theo cựu trưởng nhóm thiết kế nhân vật Phil Rynda, hầu hết các khâu tiền sản sản xuất được thực hiện bằng Photoshop. Trong khi phần thiết kế và phối màu được thực hiện ở Burbank, California, phần hoạt họa được làm ở Hàn Quốc bởi Rough Draft Korea hoặc Saerom Animation. Animating an episode often took between three and five months alone. Phần này đầu tiên thực hiện vẽ thủ công trên giấy, sau đó số hóa và tô bằng mực và màu kỹ thuật số. Giám đốc điều hành sản xuất Fred Seibert so sánh phong cách hoạt họa của phim tương đồng với loạt phim Felix the Cat, cùng các phim hoạt hình khác của Max Fleischer, nhưng nhận thấy nó đồng thời cũng mang không kém nguồn cảm hứng từ “thế giới video game” (“the world of videogames [sic]”).

Song song với việc xử lý các tập phim ở Hàn Quốc, nhóm sản xuất ở Mĩ làm việc với phần chỉnh sửa (retake), nhạc nền, và âm thanh. Khi hoàn thành, phần hoạt hình được gửi về Mỹ để đoàn làm phim xem xét, tìm lỗi trong phần đồ họa hay “những thứ được minh họa không theo như mong muốn của nhóm” (“things that didn’t animate the way [the staff] intended”). Các vấn đề này sau đó được xử lý ở Hàn Quốc và phần hoạt họa hoàn tất. Từ khi phác thảo cốt truyện cho đến khi phát sóng, cần tới khoảng tám đến 9 tháng để sản xuất mỗi tập phim; chính vì vậy, nhiều tập phim được sản xuất song song cùng lúc với nhau.

Dù đa số các tập phim được vẽ bởi các hãng phim hoạt hình Hàn Quốc, Adventure Time thỉnh thoảng vẫn có các họa sĩ diễn hoạt hay đạo diễn khách mời. Ví dụ như tập “Guardians of Sunshine” ở mùa 2 được làm phần bởi đồ họa 3-D để bắt chước phong cách video game. Tập phim “A Glitch is a Glitch” của mùa thứ 5 được biên kịch và đạo diễn bởi nhà làm phim kiêm nhà văn người Ai-len David OReilly, mang đậm phong cách đồ họa 3-D đặc trưng của đạo diễn. Họa sĩ diễn hoạt James Baxter minh họa một vài cảnh phim và nhân vật trong cả hai tập phim “James Baxter the Horse” (mùa thứ 5) và “Horse & Ball” (mùa thứ 8). Trong mùa thứ 6, tập phim “Food Chain” được biên kịch, phác thảo cốt truyện và chỉ đạo bởi đạo diễn anime Yuasa Masaaki, và đồ họa hoàn toàn bởi hãng phim của chính Yuasa. Cũng ở mùa thứ 6, tập phim “Water Park Prank”, làm bằng Flash animation bởi David Ferguson. Tập phim hoạt hình tĩnh vật “Bad Jubies”, do Kirsten Lepore đạo diễn, chiếu vào khoảng giữa mùa thứ 7. Cuối cùng, Alex cùng Lindsay Small-Butera, nổi tiếng với loạt phim hoạt hình trên mạng mang tên Baman Piderman, từng đóng góp vô phần đồ họa của tập phim “Beyond the Grotto” (mùa 8) và tập “Ketchup” (mùa 9).

Diễn viên

Adventure TimeAdventure TimeBộ phim với sự góp mặt của 2 diễn viên lồng tiếng Jeremy Shada (trái) và John DiMaggio (phải), lần lượt cho Finn và Jake.

Các diễn viên lồng tiếng cho phim bao gồm: Jeremy Shada (Finn); John DiMaggio (Jake); Tom Kenny (Vua băng); Hynden Walch (Công chúa kẹo cao su); và Olivia Olson (Marceline). Ward lồng tiếng cho vài nhân vật phụ khác nhau cùng Công chúa bướu. Cựu họa sĩ biên kịch Niki Yang lồng tiếng cho BMO bằng tiếng Anh, cũng như bạn gái của Jake, Kỳ lân cầu vồng, bằng tiếng Hàn. Polly Lou Livingston, bạn của Bettie Ward – mẹ của Pendleton Ward, lồng tiếng cho nhân vật Vòi voi.

Dàn diễn viên lồng tiếng của Adventure Time thực hiện phần ghi âm thành từng nhóm theo từng phiên chứ không làm riêng, nhằm mục đích ghi lại các cuộc hội thoại một cách tự nhiên nhất. Hynden Walch đã mô tả những buổi lồng tiếng này giống như “chơi một trò chơi đọc chữ—một trò chơi thực sự ở đó” (“doing a play reading—a really, really out there play”). Bộ phim thỉnh thoảng mời một vài vị khách góp mặt để lồng tiếng cho vài nhân vật phụ và xuất hiện lại vài lần trong phim, đồng thời đoàn làm phim chọn diễn viên cùng bạn diễn mà họ hứng thú làm việc chung. Ví dụ như, cả Adam Muto và Kent Osborne kể rằng nhóm làm phim Adventure Time thường xuyên chọn những diễn viên từng có vai trong các loạt phim truyền hình dài tập Star Trek: The Next GenerationThe Office để lồng tiếng cho một số nhân vật phụ.

Bối cảnh và truyền thuyết

Phim lấy bối cảnh thế giới tưởng tượng “Xứ Ooo” (“Land of Ooo”), ở thời điểm hậu tận thế trong tương lai khoảng 1000 năm sau thảm sát hạt nhân có tên gọi “Cuộc chiến nấm” (“Great Mushroom War”). Theo tác giả Ward, câu chuyện trong phim diễn ra “sau khi những trái bom phát nổ và phép thuật xuất hiện trở lại”. Trước khi bộ phim được hoàn thiện, Ward dự định Xứ Ooo chỉ đơn giản là một nơi “thần kỳ”. Nhưng sau khi sản xuất tập phim “Business Time”, kể về một khối băng trôi chứa các “doanh nhân” nổi lên giữa bề mặt của một cái hồ nước, bộ phim chính thức xác định thời điệm hậu tận thế của mình; Ward kể rằng đoàn làm phim “không có ý kiến gì về chuyện đó”. Ward sau này mô tả bối cảnh phim là “vùng đất ngọt ngào ở trên bên mặt nhưng đen tối ở bên dưới”, nhấn mạnh rằng ông chưa bao giờ dự định để Cuộc chiến nấm và yếu tố hậu tận thế “lấn át chủ đề của phim”. Ông giới hạn nó lại thành “những chiến xe hơi chôn vùi dưới đất trong cảnh nền [cùng những yếu tố khác mà không] gây thắc mắc cho người xem” (“cars buried underground in the background [and other elements that do not] raise any eyebrows”. Ward nói rằng yếu tố hậu tận thế là ảnh hưởng từ một phim khác năm 1979 tên là Mad Max. Kenny gọi các thành phần được thêm vào cốt truyện “khỏa lấp hết những khoảng trống” (“very fill-in-the-blanks”), và DiMaggio cho rằng, “Rõ ràng là Xứ Ooo có vài vấn đề”.

Bộ phim chứa các yếu tố thần thoại kinh điển—hoặc, cốt truyện bao trùm và hồi tưởng—được mở rộng trong nhiều tập phim khác nhau. Yếu tố thần bí chủ yếu xoay quanh nguồn gốc Cuộc chiến nấm, sự kiện đã sinh ra nhân vật phản diện chính của phim, Xác chết (Lich), cùng hồi tưởng của vài nhân vật chính và phụ xuất hiện lặp lại vài lần trong phim. Ward từng nhấn mạnh rằng chi tiết về Cuộc chiến nấm cùng sự thần bí u tối của phim tạo nên “một câu chuyện đáng để kể”, nhưng ông cũng cảm thấy phim sẽ có thể tốt hơn thế nữa nếu nó “khiêu vũ một chút với quá khứ đầy biến động của Xứ Ooo” (“dance[d] around how heavy the back-history of Ooo is”).

Sự hiện diện của LGBTQ+

Bài chi tiết: Cartoon Network và sự hiện diện của LGBTQ trong Adventure Time
Adventure Time Rebecca Sugar từng làm việc với vai trò biên kịch và họa sĩ phân cảnh của bộ phim.

Khi Rebecca Sugar tham gia đoàn làm phim với vai trò biên kịch, cô nhanh chóng tìm cách loại bỏ tư tưởng định kiến thường được truyền thụ cho trẻ con bằng cách đưa vào những nhân vật LGBTQ+. Cô bắt đầu làm việc miệt mài để “đặt các nhân vật LGBTQIA vào trong nội dung được xếp loại phổ thông” trong những năm tiếp theo. Bộ phim giới thiệu tới khán giả 2 nhân vật kỳ lạ: Marceline nữ hoàng ma cà rồng và Công chúa kẹo cao su. Sugar cố gắng tạo dựng mối quan hệ giữa 2 nhân vật này xuyên suốt các tác phẩm của mình trong phim, cùng một nhân vật không có giới tính cố định (BMO). Ban đầu, trong khi đa số các chủ để kỳ lạ này được đính vào tập phim như một nội dung phụ (để tránh những cuộc tranh cãi hoặc kiểm duyệt), các tập phim sau này—ví dụ như tập cuối “Come Along with Me” và tập đặc biệt “Obsidian” trong Distant Lands—đã công khai mở rộng các chủ đề này, đưa chúng lên đại diện cho cốt truyện phim.

Phần mở đầu và nhạc phim

Khi Ward đang làm phần nhạc hiệu mở đầu phim, bản phác thảo sơ qua gồm những cảnh phim ngắn và họa tiết “chỉ một chút điên rồ [và] vô nghĩa”, ám chỉ chủ đề về những cuộc phiêu lưu kỳ quặc trong phim. Bản thảo bao gồm “các nhân vật … đánh nhau với hồn ma và yêu quái, nhảy qua bất kỳ thứ gì có thể [và] rất nhiều bom hạt nhân xuất hiện ở đoạn cuối”. Ward sau này gọi phiên bản đó là “thực sự ngốc nghếch”. Ông gửi bản thảo này cho Cartoon Network; họ đã không chấp thuận nó và muốn một thứ gì đó hữu hình hơn giống như phần mở đầu của The Brady Bunch. Lấy cảm hứng từ đoạn mở đầu của The SimpsonsPee-wee’s Playhouse, Ward xây dựng một đoạn mở đầu mới bao gồm cảnh camera lướt qua Xứ Ooo trong khi nhạc nền nâng tông dần lên cho đến khi ca khúc chủ đề bắt đầu. Bản thảo cho ý tưởng này của Ward được đưa qua cho nhóm bố trí hoạt họa để hoàn thiện phần căn chỉnh thời gian của đoạn phim. Từ đó, phần mở đầu phát triển dần; trong khi Ward thêm “vài nguyên liệu ngớ ngẩn cho nhân vật”, Patrick McHale hướng sự chú ý của mình vào phân cảnh có Vua băng và tạo hình nhân vật này với nụ cười như trong những “quyển kỷ yếu cấp ba”. Đoàn làm phim còn gặp khó khăn để phác họa chính xác cái bóng trong phân cảnh có sự xuất hiện của Marceline. Sau cảnh lướt ban đầu, phần nhạc hiệu tiêu đề phim bước sang ca khúc chủ đề, được chơi khi cảnh phim hiện lên hình ảnh Finn và Jake đang phiêu lưu cùng nhau. Đối với phân cảnh này, Ward lấy cảm hứng từ khía cạnh “sự đơn giản” của đoạn nhạc mở đầu một bộ phim hài kịch năm 2007 Superbad. Khi nhạc phim tới đoạn “Jake the Dog” (Chú chó Jake) và “Finn the Human” (Finn cậu bé loài người), tên của từng nhân vật xuất hiện bên cạnh mỗi người, và nằm trên một nền màu đơn sắc. Đoạn nhạc mở đầu phim này được hoàn thành ngay khi loạt phim được khởi chiếu.

Ca khúc chủ đề có cùng tên với bộ phim này được trình bày bởi chính tác giả Ward, với nhạc nền từ cây đàn ukulele. Lần đầu ca khúc này xuất hiện trong tập phim chiếu thử; trong bản đó, Ward được phụ họa bằng tiếng acoustic của đàn guitar. Đối với phiên bản cho bộ phim, Ward hát với tông cao hơn để khớp với dải âm của đàn ukulele. Phiên bản cuối cùng này đáng ra chỉ là một bản tạm thời. Ward nói rằng, “Tôi ghi âm bản nhạc này cho ca khúc mở đầu phim ở trong phòng đồ họa, nơi chúng tôi có một chiếc micro nhỏ nhắn, để thêm vào phân cảnh tựa đề phim và nộp nó lên hãng. Sau này, chúng tôi đã cố thử ghi âm lại nhưng tôi lại không thích các bản đó … Tôi chỉ thích bản tạm thời thôi!” Vì ca khúc chủ đề phim được ghi âm như vậy nên có thể nghe thấy tạp âm từ bên ngoài trong suốt đoạn nhạc. Ví dụ như tiếng gõ phím của Derek Drymon ở đoạn Jake đang đi qua Vương quốc Băng. Theo Ward, rất nhiều trong số các đoạn nhạc của phim có tạp âm (“hiss and grit”) như vậy bởi nhà soạn nhạc ban đầu, Casey James Basichis, “sống trong một con thuyền hải tặc mà ông xây dựng bên trong căn hộ của mình [và] bạn có thể nghe thấy tiếng gỗ lát sàn rít cùng nhiều âm thanh lạ khác”. Sau này, bạn của Basichis, Tim Kiefer, tham gia đoàn làm phim cũng với vai trò nhà soạn nhạc. The two now work together on its music.

Phần nhạc mở đầu và kết thúc phim hầu như không thay đổi trừ 7 ngoại lệ. Đó là các tập phim Fionna và Cake (viz. tập “Fionna and Cake” của mùa thứ 3, “Bad Little Boy” của mùa 5, tập “The Prince Who Wanted Everything” mùa 6, “Five Short Tables” của mùa 8, và tập “Fionna and Cake and Fionna” mùa thứ 9) phần mở đầu bắt chước lại các hoạt cảnh gốc nhưng toàn bộ nhân vật đều được hoán đổi giới tính, và ca khúc chủ đề được trình bày bởi cựu thành viên chỉnh sửa kịch bản Natasha Allegri. Trong khi đó, phần nhạc mở đầu của 3 mini sê-ri lại khác hoàn toàn: phần nhạc mở đầu của sê-ri ngắn Stakes (2015) về chủ yếu tập trung vào nhân vật chính là Marceline, và ca khúc chủ đề do Olivia Olson trình bày; phần nhạc mở đầu của Islands (2017) mang không khí của một chuyến hải trình, nhấn mạnh các nhân vật quan trọng của loạt phim ngắn này, và ca khúc chủ đề trình bày bởi Jeremy Shada; và phần mở đầu của Elements (2017) mang nhiều hình ảnh tượng trưng cho 4 nguyên tố chính trong vũ trụ Adventure Time (đó là: lửa, băng, nhớt, và kẹo) và do Hynden Walch trình bày. Phần mở đầu cho các tập phim khách mời “A Glitch Is a Glitch” và “Food Chain” là độc nhất, lần lượt do David OReilly và Masaaki Yuasa thiết kế đồ họa. Cuối cùng, tập cuối của loạt phim, “Come Along With Me”, có phần mở đầu nói về tương lai 1000 năm sau của xứ Ooo. Phần mở đầu này giới thiệu 2 nhân vật mới là Shermy và Beth, và trình bày bởi nhân vật Beth (do Willow Smith lồng tiếng).

Bộ phim thỉnh thoảng đưa vào một số ca khúc và đoạn nhạc đặc biệt. Nhiều diễn viên lồng tiếng—bao gồm Shada, Kenny, và Olson—trình bày các ca khúc cho chính nhân vật mình đảm nhiệm. Các nhân vật trong phim thường bộc lộ cảm xúc của mình qua các bài hát; ví dụ như “I’m Just Your Problem” của Marceline (tập “What Was Missing” phần 3) và ca khúc “All Gummed Up Inside” của Finn (tập “Incendium” cũng của phần 3). Trong khi các bản nhạc nền phim đều do Basichis và Kiefer biên soạn, những ca khúc do chính các nhân vật trình bày thường do các họa sĩ vẽ bảng phân cảnh sáng tác. Và mặc dù nhìn chung hiếm khi xảy ra, bộ phim cũng đề cập đến các bản nhạc nổi tiếng. Ở giai đoạn đầu công chiếu, Frederator, công ty sản xuất của Seibert, thường tải các bản demo và đầy đủ của các ca khúc trình bày bởi chính các nhân vật lên trang chủ của mình, and when the production crew set up a series Tumblr account, this tradition of publishing demos and full versions of songs to the public was revived. Vào ngày 20 tháng 11 năm 2015, thương hiệu Spacelab9 tung ra phiên bản giới hạn 12″ LP chứa nhiều ca khúc của Marceline, và được tiếp nối sau đó với loạt soundtrack 38 ca khúc trong tháng 10 năm 2016.

Tập cuối và spin-off

Bài chi tiết: Come Along with Me (Adventure Time) và Adventure Time: Distant Lands

Trong mùa cuối của Adventure Time, mọi người đã đề cập đến đoạn kết của bộ phim ở Cartoon Network. Olivia Olson, diễn viên lồng tiếng cho Marceline, kể rằng việc thảo luận về chủ đề này đã diễn ra trong thời gian khá dài, nói về “phần kết của phim đang bị kéo dài và kéo dài và kéo dài”. Trưởng ban nội dung Rob Sorcher nói với tờ Los Angeles Times về quyết định kết thúc bộ phim:

Thời lượng chiếu của Adventure Time trên Cartoon Network đang ngày càng giảm dần, tuy vậy chúng ta đang tiến tới phần có khối lượng tập phim rất nhiều. Và tôi bắt đầu nghĩ “[Đoạn kết] không thể đến đột ngột như quyết định của công ty, nó cần phải là một cuộc đối thoại trong một quãng thời gian nhất định.” Ngoài ra, còn một vấn đề khác khiến tôi đau đầu đó là suy nghĩ nếu chúng tôi không làm điều này sớm hơn, chúng ta sẽ có một thế hệ fan hâm mộ trải qua giai đoạn [truyền hình] với [phong cách nghệ thuật mà Cartoon Network nhắm tới] mà không thấy được hồi kết và chúng ta sẽ không hoàn thiện được mạch suy nghĩ của họ.

Do đó, vào ngày 29 tháng 9 năm 2016, Cartoon Network xác nhận bộ phim sẽ kết thúc sau mùa thứ 10. Tập cuối của phim là một tập đặc biệt, tựa đề “Come Along with Me;” tập này do nhóm biên soạn bảng phân cảnh gồm Tom Herpich, Steve Wolfhard, Seo Kim, Somvilay Xayaphone, Hanna K. Nyström, Aleks Sennwald, và Sam Alden, cùngGraham Falk. Phần cốt truyện do Herpich, Wolfhard, Ashly Burch soạn thảo, nhà sản xuất Adam Muto, trưởng nhóm biên kịch Kent Osborne, Jack Pendarvis, Julia Pott, và tác giả bộ phim Pendleton Ward.
Cựu trưởng nhóm thiết kế cảnh nền Ghostshrimp trở lại sau khi chính thức rời đoàn làm phim ở mùa thứ 4.

Theo Osborne, Cartoon Network đã để cho đội ngũ sáng tác “cơ hội để dành rất nhiều thời gian suy nghĩ về đoạn kết” trước khi khâu sản xuất kết thúc. Trong buổi phỏng vấn với TV Guide, Muto giải thích rằng nhóm tác giả đã dùng rất nhiều tập phim trước đó để hoàn thành phần kết cho các câu chuyện của những nhân vật phụ “để chúng tôi không phải nhồi nhét qua nhiều vào phần cuối cùng.” Điều này cho phép tập cuối “đỡ cô đặc hơn” chỉ đơn giản bằng cách”đánh nốt [nhấn] và tìm các họa tiết cho tất cả các nhân vật … để chúng ta có thể có cái nhìn lướt qua kết cục của họ” (hitting the big [beats] and then finding vignettes for all the characters … so we could get snapshots of where they could end up.) Theo Pendarvis, phần sáng tác mạch truyện cho phim kết thúc từ giữa tháng 11 năm 2016, với buổi họp cuối cùng cho phần sáng tác cốt truyện diễn ra vào ngày 21 tháng 11.
Dòng tweet của Osborne tiết lộ kịch bản cho tập cuối đã được đề cử lên hội đồng xét khảo cốt truyện, với sự tham gia của Alden và Nyström, đưa lên vào ngày 28 tháng 11.
Tập này sau đó được đề xuất tiếp lên các nhà sản xuất của phim trong tuần thứ 3 của tháng 12 năm 2016.
Phần lồng tiếng cho tập phim này hoàn thành vào ngày 31 tháng 1 năm 2017 theo như xác nhận của một số thành viên nhóm lồng tiếng, trong đó có Maria Bamford và Andy Milonakis. Tập cuối cùng phát sóng vào ngày 3 tháng 9 năm 2018, nhận được hầu hết sự đón nhận tích cực.

Khoảng một năm sau đó, vào ngày 23 tháng 10 năm 2019, Cartoon Network thông báo về sê-ri đặc biệt dài 4 tiếng—với tựa đề Adventure Time: Distant Lands—sẽ công chiếu trên kênh HBO Max, với 2 tập đầu ra mắt năm 2020.

Phát sóng


Bài chi tiết: Danh sách tập phim Adventure Time

Mùa Tập Phát sóng gốc
Phát sóng lần đầu Phát sóng lần cuối
1 26 5 tháng 4 năm 2010 27 tháng 9 năm 2010
2 26 11 tháng 10, 2010 (2010-10-11) 9 tháng 5, 2011 (2011-05-09)
3 26 11 tháng 7, 2011 (2011-07-11) 13 tháng 2, 2012 (2012-02-13)
4 26 2 tháng 4, 2012 (2012-04-02) 22 tháng 10, 2012 (2012-10-22)
5 52 12 tháng 11, 2012 (2012-11-12) 17 tháng 3, 2014 (2014-03-17)
6 43 21 tháng 4, 2014 (2014-04-21) 5 tháng 6, 2015 (2015-06-05)
7 26 2 tháng 11 năm 2015 19 tháng 3 năm 2016
8 27 26 tháng 3 năm 2016 2 tháng 2 năm 2017
9 14 21 tháng 4 năm 2017 21 tháng 7 năm 2017
10 16 17 tháng 9 năm 2017 3 tháng 9 năm 2018

Đón nhận


Chú thích


Check Also
Close
Back to top button